Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn và biện biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam 1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn “BPNC là một trong những chế định quan trọng trong luật TTHS nƣớc ta” [4, tr7]. Các BPNC mang tính cƣỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa ngƣời phạm tội, bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng nhƣ để đảm bảo thi hành án. Các BPNC khi đƣợc áp dụng sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp.
Việc áp dụng các BPNC gắn liền với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân đối với bị can, bị cáo, ngƣời có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhƣng lại bảo về đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều công dân khác, nhƣ: ngƣời bị hại, bị đơn dân sự, ngƣơi có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. “Bảo vệ các quyền và tự do ấy trong TTHS có ý nghĩa chính trị-pháp lý và trên bình diện chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [42, tr20]. Vì vậy, BLTTHS đã dành một chƣơng riêng để quy định về những BPNC. Trong những văn bản pháp luật, tài liệu hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về BPNC.
BLTTHS Việt Nam hiện hành không đƣa ra một khái niệm cụ thể về BPNC, Điều 79 BLTTHS năm 2003 chỉ đƣa ra những căn cứ áp dụng BPNC nhƣ sau: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng nhƣ khi cần bảo đảm thi hành án, CQĐT, VKS, TA trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc ngƣời có 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thẩm quyền theo quy định của BLTTHS có thể áp dụng một trong những BPNC sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [48, Điều 79]. Việc quy định những căn cứ áp dụng BPNC để bảo đảm cho hoạt động của những cơ quan tiến hành tố tụng đƣợc thuận lợi trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh nhằm tiến tới loại trừ hiện tƣợng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội. Căn cứ vào mục đích của chúng, có thể chia thành ba nhóm sau: - Nhóm 1: Gồm những biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa ngƣời có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án nhƣ: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; - Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập và ghi nhận chứng cứ nhƣ: Khám xét ngƣời, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trƣờng, xem xét dấu vết trên thân thể.; - Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho quá trình tiến hành tố tụng đƣợc diễn ra bình thƣờng và thuận lợi nhƣ: Kê biên tài sản, áp giải bị can, bị cáo, ngƣời bị kết án, dẫn giải ngƣời làm chứng, những biện pháp xử lý do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với ngƣời có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa [66, tr 193-194]. Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng có những khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn.
Theo Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn là: Biện pháp cƣỡng chế về mặt TTHS áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc ngƣời chƣa bị khởi tố trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [73, tr. Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trƣờng Đại học Luật Hà Nội đƣa ra khái niệm: BPNC là biện pháp cƣỡng chế trong TTHS đƣợc áp dụng đối với bị can, bị cáo, ngƣời bị truy nã hoặc đối với những ngƣời chƣa bị khởi tố (trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [66, tr193]. Có thể thấy những khái niệm trên đã phản ánh đƣợc những dấu hiệu đặc trƣng của BPNC. Những khái niệm đó đều dựa trên cơ sở phân tích nội dung những quy phạm pháp luật tại Điều 79 BLTTHS năm 2003, cũng nhƣ thực tiễn áp dụng trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Nhằm xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh trong đó bao hàm những dấu hiệu đặc trƣng nhƣ: căn cứ áp dụng, mục đích áp dụng, thẩm quyền áp dụng, đối tƣợng áp dụng. Mọi hành vi áp dụng BPNC không đúng đối tƣợng, thẩm quyền, căn cứ, cũng nhƣ thủ tục đều bị coi là vi phạm pháp luật.Tác giả xin đƣa ra khái niệm: BPNC là những biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. BLTTHS năm 2003 quy định những BPNC gồm: Bắt ngƣời (bốn trƣờng hợp bắt: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt ngƣời trong trƣờng hợp 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khẩn cấp; bắt ngƣời phạm tội quả tang; Bắt ngƣời có lệnh truy nã); Tạm giữ; Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cƣ trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Mỗi BPNC có những quy định cụ thể về đối tƣợng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, do đó tùy từng trƣờng hợp để áp dụng BPNC để đạt hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.2 Khái niệm về biện pháp ngăn chặn bắt người Theo Từ điển Luật học thì: Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn mà CQĐT, Viện kiểm sát (VKS) hoặc Tòa án (TA) áp dụng khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng nhƣ khi thấy cần thiết để đảm bảo thi hành án [73, tr 44].
Bắt ngƣời trong TTHS là giữ ngƣời thực hiện hành vi phạm tội, không cho ngƣời đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đề phòng ngƣời đó bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án. Hoạt động bắt ngƣời luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã hội vì bắt ngƣời đúng hay không đúng các quy định của pháp luật có liên quan và ảnh hƣởng đến những quyền cơ bản của công dân: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền đƣợc bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm…của công dân, liên quan đến đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bắt ngƣời nhƣ vật nên thời gian trƣớc đây Nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTHS quy định chi tiết về việc bắt ngƣời nhƣ: Luật số 103-SL/005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 002-SLT ngày 18/6/1957; Sắc luật số 02-SL ngày 15/3/1976; Bộ luật TTHS năm 1988-Bộ luật TTHS đầu tiên của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. BPNC bắt ngƣời một chế định pháp lý quan trọng trong TTHS nƣớc ta.
Việc quy định và thi hành đúng đắn BPNC bắt ngƣời là bảo đảm rất quan 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của TTHS là phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời và công minh ngƣời thực hiện hành vi phạm tội, không để lọt ngƣời phạm tội, không làm oan ngƣời vô tội, ngăn không cho ngƣời phạm tội tiếp tục phạm tội hoặc phạm tội mới; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong khoa học luật TTHS bắt ngƣời đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu và có những quan niệm, ý kiến khác nhau, cụ thể: Ths Nguyễn Hữu Huân cho rằng: “Bắt ngƣời là BPNC có tính cƣỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt ngƣời nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ mà pháp luật quy định” [40, tr5]. Theo quan niệm của Ths.Nguyễn Mai Bộ: Bắt ngƣời là giữ ngƣời phạm pháp lại, không cho tiếp tục tự do hoạt động, chặn đứng hành động phạm tội đề phòng ngƣời đó lẩn trốn, tự sát, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây trở ngại cho việc điều tra. Bắt ngƣời là một trong những biện pháp cƣỡng chế cần thiết nhất của Nhà nƣớc để trấn áp, ngăn chặn những hành động phạm tội… Bắt ngƣời là một trong những BPNC do CQĐT, VKS, TA áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với ngƣời chƣa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc ngƣời phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành hình sự đƣợc thuận lợi và đúng pháp luật [5, tr31-32].
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đƣa ra khái niệm: BPNC bắt ngƣời là BPNC trong TTHS đƣợc áp dụng đối với bị can, bị cáo, ngƣời đang bị truy nã và trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với ngƣời chƣa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Quan điểm nhƣ trên về BPNC bắt ngƣời trong TTHS đã đƣa ra đƣợc những dấu hiệu đặc trƣng của của BPNC bắt ngƣời nhƣng chƣa đƣa ra chủ thể tiến hành BPNC bắt ngƣời và cho rằng một trong những mục đích của bắt ngƣời là tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.