Chương I: Nhận thức chung về biện pháp bắt người trong TTHS Việt Nam. Chương này tập trung trình bày khái niệm chung về bắt người, bắt người trong TTHS; cơ sở để phân định các trường hợp bắt, mối quan hệ giữa bắt người với các biện pháp ngăn chan khác trong TTHS; mục dich, ý nghĩa của biện pháp bắt người; những yêu cầu đối với việc áp dụng biện pháp này trong TTHS. Chương II: Quy định của pháp luật TTHS VN về bắt người và thực tế áp dụng. Trong chương này trình bày những quy định về bắt người trước và sau khi có Bộ luật Tố tụng hình sự; phân tích so sánh các trường hợp bắt người cụ thể; thực trạng tình hình áp dụng biện pháp bắt người trong những năm gần đây: những ưu điểm, nhược điểm trong quy định, những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện, nguyên nhân của tình trạng đó.
Chương HH: Mot số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu qua áp dụng biện pháp bat người trong TTHS. Chương này trình bay một số giải pháp khắc phục những tồn tại và vướng mắc trong quá trình áp dụng biện pháp bắt người phục vụ điều tra, truy tố xét “ ~“ ow * ` ^ $: oA ” » “CA J tA x 2 xư.; một số kiến nghị nham nâng cao hiệu qua cua việc áp dụng biện pháp bit người trong thực tiễn. On Gia Lam - Cao hoe Luat khod 5 CHUONG | NHAN THUC CHUNG VỀ BIEN PHAP BAT NGƯỜI TRONG TO TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khai niệm bắt người trong tô tung hình sự 1.
Khái niệm bắt người Để phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, BLTTHS được ban hành quy định trình tự, thủ tục khởi tố điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; quy định chức nang, nhiệm vụ, quyền han, mối quan hệ giữa các co quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tổ chức và công dân trong TTHS. Theo đó quá trình TTHS bao gồm tổng hợp nhiều hành vi tố tụng do các chủ thể khác nhau thực hiện, muốn đạt được mục đích của TTHS không chỉ đòi hỏi ở hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn có sự tham gia bắt buộc của những người có liên quan, của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhất là của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người bị nghỉ thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo. đều tự giác thực hiện các nghĩa vụ của mình mà nhiều khi họ còn cố tình vi phạm pháp luật, trốn tránh, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm.
Do vậy việc ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa ho gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án là một việc làm cần thiết, đó cũng chính là lý do mà BLTTHS quy định các biện pháp ngăn chặn mà các co quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo, người chưa bị khởi tố về hình sự, trong đó có biện pháp bắt người. Trong từ điển tiếng Việt của nhà xuất ban Đà Năng, năm 1998 (in lần thứ 6), trang 44 có xác định "bat" có nghĩa là nắm lấy, giữ lại không để cho tự đọ hoạt động hoặc cử động. Theo đó có thể thấy rằng bắt người là một thuật ngữ dùng để chỉ một hành vi tác động vào quyền tự do về thân thể của một người nào đó ở những mức độ nhất định nhưng dam bảo được sự chủ động của người thực hiện hành vi trong việc nắm giữ vô hiệu hod sự chống cự hay sự tự do hgạt động của đối tượng bị bắt. Về ban chat, 6 Lada đu Thaesg Ludt học - Bat người trong tố tang hink su viét Waa đây là một hành vi mang tính chất cưỡng chế dùng quyền lực của chu thể thực hiện hoặc dựa vào quyền lực khác để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theo nhằm dat một mục đích nào đó.
Nếu là bắt đúng pháp luật thì quyền lực bat buộc mà chủ thể thực hiện việc bắt sử dụng là quyền lực của Nhà nước và việc bát người trong trường hợp này nhằm đạt được mục đích tố tụng. Như vậy việc bat được thực hiện đối với người phạm tội. Việc bắt người phạm tội được thực hiện theo các quy định của pháp luật TTHS gọi là bat người trong TTHS. Trong từ điển luật học Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội 1999 trang 36 đã nêu mot khái niệm về bat như sau: “Bắt: một trong những biện pháp ngăn chặn mà cơ quan diéu tra, VKShoặc Toà án áp dụng khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gay khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiép tục phạm toi cũng như khi thấy can thiết để đảm bảo việc thi hành dn".
Cách hiểu như trên về bắt người trong TTHS là chưa đầy đủ, không bao hàm hết mục đích của bắt người cũng như phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp này, đồng thời cũng không xác định được đầy đủ thẩm quyền quyết định áp dụng, thẩm quyền bắt, không phù hợp với tính thần các Điều 61, 62, 63, 64 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo chúng tôi, khái niệm bắt người trong TTHS phải thể hiện được dây đủ bản chất, nội dung, căn cứ áp dụng, mục đích, thẩm quyền áp dụng, phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng biện pháp này. Với quan điểm nêu trên, khái niệm bat người trong TTHS có thể được hiểu như sau: Bắt người là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS do những người có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện đối với bị can, bị cáa hoặc đối với người chưa bi khởi tố về hình sự nhdm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn netta người phạm tội trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn, can trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Việc xác định chính xác khái niệm về bắt người trong TTHS có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Về mặt lý luận, từ khái niệm này sẽ chỉ ra được những hạn chế hoặc thiếu sót trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật cũng như những quan điểm lý luận về biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp bắt người nói riêng. Về thực Ot Gia Lam - Cao hoe Ludt khod 5 tiễn, giúp các cơ quan va người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có điều kiện thuận lợi hơn trong việc vận dụng nâng cao hiệu quả việc áp dụng biện pháp bắt người trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Cơ sở của việc phân định các trường hop bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Cơ sở lý luận - Quy định của Hiến pháp Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định: "quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Theo đó, ngoài việc quy định trong Hiến pháp và các dạo luật về các quyền cơ ban của công dân và đảm bảo cho công dan thực hiện dược các quyền đó, Nhà nước cũng xác định cho công dân các nghĩa vụ kèm theo và đòi hỏi công dân phải làm tròn các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Việc xâm phạm một cách trái pháp luật đến các quyền cơ bản của công dân là việc làm vi phạm pháp luật, việc công dan từ chối thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạm các nghĩa vụ được quy định cũng là vi phạm pháp luật.
Ca hai loại vi phạm này tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm đều bị xử lý với các hình thức khác nhau. Tất cả đều cùng hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện một nhà nước trong đó xã hội được quản lý bằng pháp luật, pháp luật được tuân thủ triệt để, đảm bảo dược sự công bằng xã hội trên cơ sở tôn trọng các quyền con người. Mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là sự tồn tại tất yếu như là sự tồn tại hai mặt của một vấn đề vô cùng quan trọng đó là quyền con người mà trong đó bất kỳ sự hạn chế hoặc vi phạm một mặt nào cũng đều dẫn tới ảnh hưởng đến mặt kia của vấn đề. Các quyền cơ bản của công dân có thể bị tác động đến nếu công dân không thực hiện hay thực hiện không đây đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
Công dân có quyền tự do cá nhân - quyền tự do cá nhân được hiểu theo nghĩa rộng là các quyển và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật được thể hiện ý chí, nguyện vọng, làm theo ý muốn của ~“tuận du “Thạc sỹ uất hoe - Bat aquéi trong tố tang hinh sự viet Aan mình trên cơ sở không can trở làm ảnh hưởng tới quyền lợi của những người khác và của cộng đồng'. Quyền và nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp, pháp luật bao đảm thực hiện và phải thực hiện trong khuôn khổ cho phép làm sao vừa thể hiện được sự tôn trọng các quyền công dân nhưng cũng đồng thời đảm bảo dược các nghĩa vụ tương ứng. Với quan điểm lý luận đó Hiến pháp và luật đã cụ thể hoá các quyền và nghĩa vụ cơ ban của công dan trong đó có quyền bat kha xâm phạm về thân thể: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bat, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc bat và giam giữ người phải đúng pháp luat. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một quyền rất cơ bản của công dân trong đó xác định không ai có thể xâm phạm đến thân thể của người khác vì bất kỳ lý do gì, vì thân thể con người thường gắn liền với vấn đề tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh du, nhân phẩm của họ. Tuy nhiên, điều đó chỉ được thực hiện đối với công dân ý thức được đầy đủ trách nhiệm và thực hiện tốt những nghĩa vụ của mình trước xã hội và cộng đồng, Không ai bị bắt - nếu họ không vi phạm pháp luật, không phạm tội.