CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế. Khái niệm về cạnh tranh: Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh còn rất khác nhau. Theo Mác “cạnh tranh là sự phấn đấu, ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo nhóm tác giả cuốn “nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước” cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác”. Theo kinh tế chính trị học “cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Để hiểu một cách khái quát nhất ta có khái niệm như sau: Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh với mục tiêu chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận hoặc dịch vụ. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế: 1.
Đối với doanh nghiệp: Bất cứ doanh nghiệp nào khi tham gia cũng phải đối mặt với cạnh tranh và phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng cách tạo ra những lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với đối thủ như: Nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm, giảm giá, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và nguồn nhân lực. Cạnh tranh sẽ kích thích các doanh nghiệp năng động, mạnh mẽ và làm ăn có hiệu quả hơn. Mặt khác, các doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh vượt trội 4 so với đối thủ trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển lâu dài và ổn định. Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp theo đuổi các chiến lược khác nhau, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, áp dụng những công nghệ hiện đại để có thể đứng vững trên thị trường, thu được lợi nhuận cao.
Điều này làm cho người tiêu dùng được hưởng nhiều điều kiện thuận lợi hơn như: Sự đa dạng chủng loại các mặt hàng, sản phẩm có chất lượng tốt hơn mà giá lại rẻ hơn, các dịch vụ ngày càng thuận tiện,. Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, đồng thời khẳng định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ độc quyền, sự bất bình đẳng trong kinh doanh. Mặt khác, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng xã hội. Các hình thức cạnh tranh chủ yếu: 1. Theo tính chất và mức độ cạnh tranh: - Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà giá cả thị trường do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định; không chịu sự ảnh hưởng của người bán và người mua. Việc tham gia hay rút lui khỏi thị trường rất dễ dàng.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế mà ở đó doanh nghiệp có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền. + Độc quyền nhóm: Tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một ít người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của 5 mình không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những kẻ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó. + Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là hình thức cạnh tranh mà trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm phân biệt (đã được làm cho khác sản phẩm của các doanh nghiệp khác), các sản phẩm này có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo.
Người bán có thể thu hút khách hàng bằng các cách hữu hiệu như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ hậu mãi,. Theo chủ thể tham gia thị trường: - Cạnh tranh giữa người bán với người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo “luật” mua rẻ - bán đắt. Sự cạnh tranh này được thực hiện trong quá trình “mặc cả” và giá cả được hình thành; hành động bán, mua được thực hiện. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu.
Cuộc cạnh tranh càng trở nên quyết liệt và giá hàng hoá, dịch vụ sẽ càng tăng khi mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng. Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, người mua phải mất thêm một số tiền. Đây là cuộc cạnh tranh mà người mua tự làm hại chính mình. - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường; là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất, có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp.
Tất cả các doanh nghiệp đều muốn giành giật lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ; doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này sẽ tăng doanh số tiêu thụ, tăng tỉ lệ thị phần. Cùng với nó là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, đã kinh doanh thì bắt buộc phải chấp nhận. Theo phạm vi lãnh thổ: - Cạnh tranh trong nước.
- Cạnh tranh quốc tế. 6 Ngày nay, cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các chủ thể phải tuân thủ tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế: - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Doanh nghiệp thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường; doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, có thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, hay đồng minh các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Các doanh nghiệp luôn đầu tư những ngành có lợi nhuận nên đã chuyển vốn từ ngành lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao hơn. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm về năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, sử dụng, duy trì và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: 1. Khái niệm: Lợi thế cạnh tranh (LTCT) là các yếu tố năng lực, nguồn lực mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách có kết quả và có hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh. Để có lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải có chi phí trên một đơn vị sản phẩm là thấp hơn (LTCT về chi phí) hoặc là cho sản phẩm của mình khác biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về một khía cạnh nào đó để có thể đặt giá cao hơn so với đối thủ (LTCT về khác biệt sản phẩm) hoặc làm đồng thời cả hai cách trên. Các yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh: 7 Để có được lợi thế cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải hoạt động tốt trên bốn phương diện cơ bản: Hiệu suất và hiệu quả cao hơn, chất lượng tốt hơn, đổi mới nhanh hơn và đáp ứng cho khách hàng nhanh hơn.
Đây là bốn cách cơ bản nhất để giảm chi phí và đa dạng hóa mà bất kỳ doanh nghiệp nào ở một ngành nào đó cũng có thể áp dụng. - Hiệu suất và hiệu quả cao hơn: Hiệu suất được đo lường bởi mức độ tổn hao các đầu vào cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Doanh nghiệp có hiệu suất càng cao, mức độ hao phí đầu vào cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra càng thấp. Do đó, hiệu suất giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh về chi phí.
Việc đạt được hiệu suất cao, đồng nghĩa với việc sử dụng tốt nhất các đầu vào trong quá trình sản xuất. Khi đầu vào là nhân công, chúng ta có khái niệm rất quan trọng phản ánh hiệu suất sử dụng lao động, đó là năng suất lao động, thường được đo bằng mức sản lượng trên một nhân công hoặc một khoảng thời gian lao động nhất định. Năng suất lao động cao đồng nghĩa với việc giảm bớt hao tổn thời gian lao động trên một đơn vị sản phẩm, do vậy mang lại lợi thế cạnh tranh về chi phí cho doanh nghiệp. Hiệu suất và hiệu quả đều là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo Peter Drucker, hiệu quả là việc giải quyết đúng công việc và hiệu suất là giải quyết công việc đúng cách. Như vậy, hiệu suất phản ánh những nỗ lực của các bộ phận chức năng trong việc triển khai những hoạt động riêng biệt. Trong hoạt động thường ngày, các nhà quản trị có xu hướng nâng cao hiệu suất hoạt động của đơn vị họ. Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu suất hoạt động của các bộ phận của tổ chức không phải lúc nào cũng dẫn đến việc đạt tới các mục tiêu chung của tổ chức.
Khi điều này xảy ra sẽ gây nên sự lãng phí lớn. Vì vậy, xác định đúng các mục tiêu chiến lược dài hạn, làm cho mọi người hiểu được các mục tiêu đó, qua đó hướng các nguồn lực và hoạt động của tổ chức vào việc đạt tới mục các tiêu chung với hiệu suất và hiệu quả cao nhất là điều kiện quan trọng trong việc xây dựng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. 8 - Chất lượng cao hơn: Sản phẩm chất lượng là hàng hóa và dịch vụ có độ tin cậy cao trong quá trình sử dụng và có thể thực hiện tốt các chức năng mà nó được thiết kế chế tạo ra.