CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Khái niệm về hiệu quả kinh doanh toàn diện đầy đủ, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải xác định chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh; phải phân bổ hợp lý, quản trị khoa học và thường xuyên kiểm tra quá trình sử dụng các nguồn lực.
Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá được mức độ sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp. Mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh. Xét trên khía cạnh về hiệu quả kinh tế. Có ý kiến cho rằng: ''Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó'' [9]. Thực chất quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền xuất xã hội. Theo Manfred Kuhn: ''Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho CPKD'' [5]. Xét trên giác độ lý thuyết, hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên đường giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để đạt được mức hiệu quả kinh doanh này sẽ cần rất nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu tư sản xuất theo qui mô phù hợp với nhu cầu thị trường. Thế nhưng không phải lúc nào điều này cũng trở thành hiện thực. 4 Nhiều nhà quản trị học quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hoặc có ý kiến cho rằng: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Từ những ý kiến nêu trên, luận văn rút ra: Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thể hiện qua công thức sau: H =K/E (1.1) Trong đó: H - hiệu quả kinh doanh K. Kết quả đạt được.
Hao phí nguồn lực để có được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào qui mô và tốc độ biến động của từng nhân tố. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu và trong điều kiện cho phép nên trong bài viết này chỉ nêu một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh mức độ hoạt động của doanh nghiệp.1 Chỉ tiêu Doanh thu Doanh thu là kết quả biểu hiện khối lượng hàng hóa tiêu thụ về mặt giá trị (đơn vị tiền tệ).
Doanh thu là kết quả của một quá trình luân chuyển của sản phẩm hàng hóa từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có doanh thu mới có vốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Qua doanh thu tính chất hữu ích của hàng hóa tiêu thụ mới được xác định một cách hoàn toàn. Có tiêu thụ hàng hóa sản phẩm mới có doanh thu, điều đó chứng tỏ năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện kết quả nghiên cứu thị trường…vv.
Sau quá trình tiêu thụ với kết quả mang lại là giá trị doanh thu. Doanh nghiệp không những thu hồi tổng số chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện được giá trị lao động thặng dư, đây là nguồn thu quan trọng nhằm tích lũy vào ngân sách, vào quỹ doanh nghiệp nhằm mở rộng qui mô và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên. Công thức: Doanh thu = Khối lượng hàng hóa tiêu thụ x Giá bán (KH) (1.2) Phân tích doanh thu là xem xét đánh giá sự biến động về khối lượng hàng hóa tiêu thụ xét ở toàn doanh nghiệp và loại sản phẩm hàng hóa. Đồng thời xem mối quan hệ cân đối giữa dự trữ sản xuất và tiêu thụ.
Phương pháp phân tích: + So sánh doanh thu thực tế tính theo giá bán kế hoạch với doanh thu kế hoạch tính theo giá bán kế hoạch (cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối).3) Tổng (Khối lượng hàng hóa tiêu thụ thực tế x Giá bán KH) Tỷ lệ hoàn thành KH (doanh thu) = Tổng (Khối lượng hàng hóa tiêu thụ x Giá bán KH) 6 + So sánh khối lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế với kế hoạch và năm trước của từng loại sản phẩm, đồng thời so sánh tỷ lệ hoàn thành KH tiêu thụ với tỷ lệ hoàn thành KH sản xuất sản phẩm hàng hóa và tỷ lệ dự trữ của từng loại sản phẩm. Phân tích một số trường hợp có thể xảy ra.4) Số lượng hàng Số lượng hàng hóa Số lượng hàng Số lượng hàng hóa tồn ĐK + sản xuất trong kỳ - hóa tồn CK = hóa tiêu thụ Dựa vào công thức này có thể xảy ra một số trường hợp sau: Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng, trong khi số lượng sản phẩm dự trữ đầu kỳ tăng, khối lượng sản xuất giảm và khối lượng dự trữ cuối kỳ tăng. Trường hợp này doanh nghiệp đã hoàn thành kế hoạch tiêu thụ, nguyên nhân dẫn đến tình hình này do mức dự trữ đầu kỳ tăng nếu không doanh nghiệp không hoàn thành KH tiêu thụ. Mặt khác, mức dự trữ cuối kỳ cũng tăng lên, rõ ràng mức dự trữ dầu kỳ tăng lên với tốc độ lớn hơn.
Điều này thể hiện sự không cân đối giữa sản xuất, dự trữ, tiêu thụ. Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên, trong khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng, sản phẩm dự trữ đầu kỳ giảm. Trường hợp này xảy ra nếu: + Khối lượng dự trữ cuối kỳ tăng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cho kỳ sau thì đánh giá tích cực. Bởi vì tuy tồn kho đầu kỳ giảm, nhưng do đẩy mạnh sản xuất, doanh nghiệp không những đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ mà còn đủ sản phẩm để dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ kỳ sau, thể hiện được sự cân đối giữa sản xuất tiêu thụ và dự trữ.
+ Sản phẩm dự trữ cuối kỳ giảm, tình hình này sẽ ảnh hưởng tới mức tiêu thụ kỳ sau, không thực hiện được hợp đồng tiêu thụ đã ký kết. Tính cân đối giữa sản xuất tiêu thụ và dự trữ không được thực hiện. 7 Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ giảm, trong khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng, dự trữ đầu kỳ giảm, dự trữ cuối kỳ tăng. Tình hình này đánh giá không tốt, doanh nghiệp không hoàn thành KH tiêu thụ, gây ứ đọng vốn trong khâu dự trữ, mất cân đối giữa dự trữ, sản xuất và tiêu thụ.
Nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình này có thể không tổ chức tốt khâu tiêu thụ, chất lượng sản phẩm không đảm bảo…. Nếu khối lượng sản sản phẩm tiêu thụ tăng, trong khi khối lượng sản xuất giảm, dự trữ đầu kỳ tăng, dự trữ cuối kỳ giảm với tốc độ lớn. Tình hình này cho thấy tuy doanh nghiệp đã hoàn thành kế hoạch tiêu thụ, nhưng đánh giá không tốt, bởi sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ và dự trữ cuối kỳ thấp ảnh hưởng đến tiêu thụ kỳ sau, tính cân đối giữa sản xuất, dự trữ, tiêu thụ không đảm bảo. Dựa vào công thức trên, có thể có nhiều trường hợp xảy ra khác nhau, để đánh giá chính xác cần chú ý đến đặc điểm của sản phẩm sản xuất từng loại doanh nghiệp, đặc điểm doanh nghiệp từng thời kỳ, tình hình thị trường, các chế độ chính sách của nhà nước.2 Chỉ tiêu Lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của ng−êi lao động mang lại.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng của doanh nghiệp, phản ánh kết quả được sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định,. Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn bộ nền kinh tế quốc dân và doanh nghiệp. Bởi vì lợi nhuận là nguồn hình thành lên các doanh nghiệp nhà nước, thông qua viêc thu thuế, trên cơ sở đó giúp cho nhà nước phát triển nền kinh tế xã hội.
8 Một bộ phận lợi nhuận khác được để lại doanh nghiệp để thành lập các quỹ tạo điều kiện sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống cán bộ CNV. Lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và các đơn vị gia sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sơ chính sách phân phối đúng đắn. Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phong phú và đa dạng nên lợi nhuận được hinh thành từ nhiều bộ phận, hiểu rõ nội dung của từng bộ phận và cơ sở để thực hiện tốt công tác phân tích lợi nhuận. Nếu xét theo nguồn hình thành lợi nhuận bao gồm các bộ phận sau: - Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính. - Lợi nhuận từ hoạt động bất thường.