mở đầu và kết luận bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH TMDV Vĩnh Thịnh Trƣờng Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH TMDV Vĩnh Thịnh Trƣờng 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trƣờng 1. Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp * Khái niệm doanh nghiệp Tại điều 4 trong Luật DN năm 2005, DN đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. [10] Theo quy định này thì ta thấy DN có các đặc điểm sau: - DN là một đơn vị kinh tế, đƣợc hoạt động trên thƣơng trƣờng và có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản riêng - DN muốn hoạt động phải đi đăng ký kinh doanh - Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, DN phải luôn trong trạng thái hoạt động kinh doanh.
Cũng tại điều 4 Luật DN cũng chỉ ra rằng: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi”. [10] * Phân loại doanh nghiệp Có rất nhiều cách khác nhau trong việc phân loại DN [10], [24] - Căn cứ vào chủ sở hữu thì có các loại: + DN Nhà nƣớc: Đây là loại hình DN mà có trên 50% số vốn điều lệ là do Nhà nƣớc sở hữu. Vì vậy, theo luật thì Nhà nƣớc có quyền chi phối lớn trong hoạt động SXKD của những DN này. 5 + DN tƣ nhân: Đây là DN mà 100% vốn điều lệ do cá nhân bỏ ra nên cá nhân đó làm chủ và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong hoạt động SXKD của DN bằng chính tài sản của mình.
+ DN tập thể: Đây là DN mà nó đƣợc hình thành do các thành viên cùng nhau góp tài sản, tiền bạc, công sức và mọi thành viên cùng hƣởng lợi từ việc kinh doanh này. Đồng thời mọi thành viên tham gia đóng góp vào DN cũng sẽ phải cùng nhau chịu trách nhiệm với toàn bộ hoạt động SXKD của DN. + DN của các tổ chức chính trị xã hội: Đây là DN đƣợc hình thành từ nguồn kinh phí của các tổ chức kinh tế xã hội và thƣờng là hoạt động với những nội dung mang tính phục vụ đời sống dân sinh là chủ yếu. + DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: Đây là những DN mà nguồn vốn của nó đƣợc đầu tƣ toàn bộ hoặc một phần từ các tổ chức kinh tế nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam.
- Căn cứ theo số lƣợng chủ sở hữu đầu tƣ vốn gồm các loại: + DN một chủ: Đây là DN chỉ do một cá nhân hoặc một tổ chức đứng ra thành lập với toàn bộ số vốn của họ. Loại hình này gồm các công ty nhƣ công ty TNHH MTV, DN tƣ nhân hay Công ty Nhà nƣớc. + DN nhiều chủ: Đây là loại hình DN đƣợc thành lập dựa trên cơ sở liên của các thành viên cùng nhau tham gia góp vốn và cũng có trƣờng hợp là góp cả công sức, danh nghĩa của nghề nghiệp để hình thành nên DN. Loại hình này gồm các công ty nhƣ công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc là công ty hợp danh.
- Căn cứ vào mức độ chịu trách nhiệm với DN bao gồm các loại: + Loại DN trách nhiệm hữu hạn: Theo loại này, chủ sở hữu, các thành viên tham gia góp vốn chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của DN trong phạm vi số vốn mà họ đã bỏ ra đầu tƣ thành lập DN. + Loại DN trách nhiệm vô hạn: Đối với loại hình DN này, chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ tham gia góp vốn sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của DN. Hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nơi diễn ra các hoạt động mua bán trao đổi mà trong đó ngƣời mua và ngƣời bán tác động qua lại với nhau thông qua số lƣợng mua bán và giá cả của hàng hóa đƣợc hiểu là thị trƣờng. Trong hoạt động này ngƣời ta qua tâm tới ba yếu tố chính là: ngƣời bán, nhu cầu có khả năng thanh toán của ngƣời mua và giá cả của hàng hóa đem mua bán.
Trong môi trƣờng kinh doanh, các nhà kinh tế phải luôn chủ động tới các vấn đề về vốn, về công nghệ thiết bị, về lao động… mà DN mình đang hiện có. Những yếu tố này tác động trực tiếp tới kết quả, hiệu quả KD của DN. Chủ DN muốn mở rộng và phát triển bền vững trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay đòi hỏi các DN phải mở rộng quan hệ kinh tế không chỉ trên địa bàn khu vực vùng địa phƣơng mà còn trên toàn quốc và thế giới. Để làm đƣợc điều này, các DN một mặt phải nâng cao sức mạnh cạnh tranh so với các đối thủ cùng ngành về giá cả hàng hóa, về chất lƣợng sản phẩm, về cơ cấu trình độ lao động, về công nghệ thiết bị… Mặt khác, các DN phải am hiểu các chính sách pháp luật, các đƣờng lối phát triển kinh tế không chỉ của Việt Nam mà còn của các nƣớc khác trên thế giới.
DN phải hết sức quan tâm chú trọng tới việc mở rộng thị trƣờng và phải luôn nhạy bén trong kinh doanh để có thể đƣa ra các chính sách, các quyết định đúng đắn, kịp thời nhằm nắm bắt những cơ hội có một không hai trong kinh doanh. [10] Bất kỳ DN nào khi bắt đầu kinh doanh đều phải có một lƣợng vốn nhất định. Số vốn này đƣợc dùng để đầu tƣ mua sắm TSCĐ, mua nguyên vật liệu, thuê nhân công. Sau khi có đầy đủ cơ sở hạ tầng, DN tiến hành KD.
Kết quả của quá trình này là khối lƣợng hàng hóa. Lúc này DN mang hàng hóa đem bán ra thị trƣờng thu về một lƣợng tiền. Lƣợng tiền này phải lớn hơn lƣợng vốn đầu tƣ mà DN bỏ ra ban đầu thì DN mới có lãi. Do đó, DN luôn tìm mọi cách để có thể tăng LN nhằm nâng cao hiệu quả KD.
Tuy nhiên, dù áp dụng cách nào đi chăng nữa cũng phải đảm bảo thực hiện đúng theo pháp luật và đi đúng hƣớng, đúng chủ trƣơng mà Đảng và Nhà nƣớc đã đặt ra trong từng thời 7 kỳ cụ thể. Điều này đòi hỏi các DN phải nghiên cứu tìm hiểu và nắm vững các quy chế, quy định của Nhà nƣớc đồng thời cũng phải hiểu rõ các quy luật kinh tế chi phối thị trƣờng không chỉ trong nƣớc và thế giới. Hiệu quả kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Theo nhà kinh tế học Adam Smith (ngƣời Anh), ông cho rằng hiệu quả là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa.
Ở đây, hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh vì doanh thu có thể tăng do chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất tăng. Một quan điểm khác lại cho rằng hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả thu về và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra. Cũng có quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh doanh đƣợc đo bằng hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Bên cạnh đó thì lại có quan điểm cho rằng hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã họi tổng hợp dùng để lựa chọn các phƣơng án hoặc các quyết định trong thực tiễn của con ngƣời ở mọi lĩnh vực và mọi thời điểm.
Bất kì một quyết định nào cũng cần đạt đƣợc phƣơng án tốt nhất trong điều kiện cho phép là giải pháp hiện thực có cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của các quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể nhất. Có thể nói, đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của DN sao cho kết quả thu về là cao nhất với tổng chi phí phải thấp nhất. Vấn đề này rất phức tạp và có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh. DN chỉ có thể đạt hiệu quả kinh doanh cao khi DN sử dụng tốt các yếu tố lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động.
Nhƣ vậy, hiểu một cách chung nhất: Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế biể hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh các trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó 8 trong quá trình kinh doanh. Khi xã hội càng phát triển, kinh tế đƣợc mở rộng giao thƣơng thì hiệu quả kinh doanh đƣợc xem là thƣớc đo quan trọng của tăng trƣởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện các mục tiêu của DN trong từng thời kỳ. Ta có công thức: Hiệu quả kinh doanh xét theo mặt tuyệt đối đƣợc tính toán: HQ = KQ - CP (1.1) Còn về so sánh tƣơng đối thì hiệu quả kinh doanh đƣợc tính là: HQ = KQ/CP (1.2) Trong đó: HQ: Hiệu quả KQ: Kết quả đầu ra CP: Nguồn lực đầu vào gắn với kết quả đó. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh * Doanh thu Trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam thì theo chuẩn mực số 14 có viết: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu đƣợc trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động KD thông thƣờng của DN, góp phần làm phát triển VCSH”. [4] Trong hoạt động KD của DN có thể tổng hợp các khoản doanh thu vào ba loại chính nhƣ sau: - Một là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Đây là loại doanh thu bao gồm toàn bộ số tiền thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc trong tƣơng lai khi khách hàng thanh toán từ việc bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. - Hai là doanh thu tài chính.