CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Tại điều 4 trong Luật DN năm 2005, DN được định nghĩa như sau: “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các HĐKD”. [17] Theo quy định này thì ta thấy DN có các đặc điểm sau: - Kể từ lúc thành lập cho tới khi dừng hoạt động thì DN hoạt luôn luôn trong trạng thái HĐKD không ngừng nghỉ.
- Khi đã hình thành DN và được pháp luật công nhận thì bất kỳ DN nào cũng phải có những thông tin cụ thể về trụ sở giao dịch, vốn điều lệ, đặc điểm ngành nghề KD. - Để được pháp luật công nhận và hoạt động dưới 1 tổ chức, DN phải đi đăng ký KD. Điều 4 Luật DN cũng chỉ ra rằng: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ SX đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Phân loại doanh nghiệp Có nhiều cách để phân loại DN, mỗi một căn cứ khác nhau sẽ có các hình thức DN, hay tên gọi DN khác nhau.
[1] - Căn cứ theo số lượng chủ sở hữu đầu tư vốn gồm các loại: + DN một chủ: Với việc một mình bỏ vốn ra đầu tư KD, thành lập DN thì một cá nhân hay tổ chức đó chính là chủ DN. Mọi HĐKD của DN sẽ cho chủ vốn quản lý và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật. 7 + DN nhiều chủ: Thay vì chỉ có một cá nhân hay một tổ chức bỏ vốn ra để KD thì sẽ có nhiều cá nhân, tổ chức cùng tham gia góp vốn, danh nghĩa nghề nghiệp ví dụ như công ty hợp danh. - Căn cứ vào mức độ chịu trách nhiệm với DN bao gồm các loại: + Loại DN trách nhiệm hữu hạn: Với số vốn mà các thành viên, cá nhân trong tổ chức bỏ vốn ra thì họ chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với những khoản nợ mà DN chịu.
+ Loại DN trách nhiệm vô hạn: Với những khoản nợ mà DN mắc phải thì cá nhân, tổ chức sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản mà họ có. - Căn cứ vào chủ sở hữu thì có các loại: + DN Nhà nước: Trong vốn điều lệ mà DN có thì Nhà nước sở hữu vốn trong đó chiếm trên 50%. + DN tư nhân: là cá nhân một người bỏ vốn toàn bộ của họ để thành lập DN và họ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với DN. + DN tập thể: Các thành viên cùng nhau góp tài sản, tiền bạc, công sức và mọi thành viên cùng hưởng lợi từ việc kinh doanh này.
+ DN của các tổ chức chính trị xã hội: Hình thành từ nguồn kinh phí của các tổ chức kinh tế xã hội và thường là hoạt động với những nội dung mang tính phục vụ đời sống dân sinh là chủ yếu. + DN có vốn đầu tư nước ngoài: Nguồn vốn của nó được đầu tư toàn bộ hoặc một phần từ các tổ chức kinh tế nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp dược phẩm Dược phẩm cũng là một loại hàng hoá vì thế trong nền kinh tế thị trường, tuân thủ theo đúng quy luật cung - cầu trên thị trường, nó cũng mang đầy đủ các thuộc tính của hàng hoá, giá cả của thuốc. Việc SX cung ứng dược phẩm luôn bị các quy luật kinh tế hàng hoá chi phối chặt chẽ như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh… 8 Bên cạnh đó dược phẩm cũng mang những nét đặc trưng rất riêng: Có tính xã hội cao; Có hàm lượng chất xám cao và trình độ kĩ thuật, công nghệ tiên tiến.
Xác suất thành công khoảng từ 1/10. Thuốc mới cần được thử lâm sàng trên khoảng 40. Vì vậy việc nghiên cứu các loại dược phẩm mới hầu hết tập trung ở các nước phát triển có kinh phí lớn. Các nước đang phát triển chủ yếu chỉ xuất khẩu dược liệu và mua lại bản quyền SX thuốc từ các hãng dược phẩm nước ngoài hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm để tiêu thụ trong nước.
Theo số liệu từ Cục quản lý Dược, tính đến tháng 5/2019, Việt Nam có khoảng 180 DN SX dược phẩm và 224 cơ sở SX trong nước đạt tiêu chuẩn GMP (thực hành tốt SX thuốc). Các công ty trong nước chủ yếu SX dạng bào chế đơn giản, thực phẩm chức năng và các loại thuốc generic (dược phẩm hết thời hạn bảo hộ độc quyền). Đối với hoạt động phân phối thuốc, hiện nay chủ yếu thông qua hình thức bán cho bệnh viện (kênh ETC) chiếm 70%, 30% còn lại dành cho các nhà thuốc bán lẻ (kênh OTC). Cả nước có khoảng 57.000 nhà thuốc, quầy thuốc các loại.
Sự phát triển của kênh ETC đến từ chính sách bảo hiểm y tế của Chính phủ với tỷ lệ người dân tham gia ngày càng cao, việc chi tiêu thuốc cho khu vực này dự kiến sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng chủ đạo, các bệnh viện tư nhân phát triển mạnh mẽ và nhận thức của người dân về sức khỏe ngày càng gia tăng dẫn đến nhu cầu bệnh viện cao hơn. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dược phẩm Hiệu quả HĐKD trong các DN nói chung và trong DN dược phẩm nói riêng được hiểu một cách đơn giản đó là việc sử dụng các nguồn lực trong DN trong HĐKD nhằm mục tiêu sinh lời. Hay nói cách khác, kết quả thu về so với những chi phí bỏ ra càng lớn, càng tốt. Khi xã hội càng phát triển, kinh 9 tế được mở rộng giao thương thì hiệu quả HĐKD được xem là thước đo quan trọng của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện các mục tiêu của DN trong từng thời kỳ.
[2] Ta có công thức: Hiệu quả SXKD xét theo mặt tuyệt đối được tính toán: HQ = KQ - CP (1.1) Còn về so sánh tương đối thì hiệu quả SXKD được tính là: HQ = KQ/CP (1.2) Trong đó: HQ: Hiệu quả KQ: Kết quả đầu ra CP: Nguồn lực đầu vào gắn với kết quả đó 1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh 1. Chỉ tiêu doanh thu Doanh thu là toàn bộ số tiền mà DN thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Doanh thu là một chỉ tiêu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển mỗi DN, cụ thể: [3] - Doanh thu phản ánh vị thế của DN trên thị trường. - Doanh thu là một trong những chỉ tiêu phản ánh kết quả SXKD của DN, phản ánh tổng hợp quy mô và tổ chức hoạt động SXKD của DN, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết để DN có thể thực hiện tái SX giản đơn và tái SX mở rộng. - Doanh thu là nguồn bù đắp các khoản chi phí mà DN phải bỏ ra trong quá trình SXKD, là nguồn để thanh toán nghĩa vụ với ngân sách, thanh toán các khoản nợ của DN, đồng thời là nguồn chính để tạo ra LN. Chỉ tiêu chi phí Chi phí là toàn bộ những khoản chi mà DN phải bỏ ra để tiến hành hoạt động SXKD bao gồm các khoản: mua nguyên vật liệu phục vụ SX, trả lương 10 cho CBCNV, mua sắm sửa chữa trang thiết bị, đầu tư xây dựng và mua sắm TSCĐ… Xác định chi phí cho hoạt động SXKD sẽ giúp cho DN xác định được giá thành của từng loại sản phẩm, dịch vụ của mình.
Hạ giá thành sản phẩm hoặc tiết kiệm chi phí cho hoạt động SXKD là nhiệm vụ quan trọng của DN nhằm đạt được mục tiêu về LN. Chỉ tiêu lợi nhuận Đây là khoản chênh lệch giữa DT thu về và chi phí bỏ ra. Hay nói cách khác, LN là phần còn lại của DT sau khi đã bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong kỳ của DN. [18] - LN bán hàng và cung cấp dịch vụ: là khoản chênh lệch giữa DT bán hàng và CCDV trừ đi các khoản về chi phí bán hàng, quản lý DN, GVHD.
- LN hoạt động tài chính: Đây là phần chênh lệch giữa DT tài chính với chi phí tài chính. - LN khác: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy thu nhập khác trừ đi chi phí khác. Lợi nhuận càng lớn luôn là mong muốn của mọi nhà quản trị DN. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Nhóm tỷ suất lợi nhuận của hoạt động kinh doanh * Tỷ suất LN theo doanh thu LNTT TDT = (1.3) DT Trong đó: TDT: Tỷ suất LN trước thuế, sau thuế theo doanh thu LNTT: LN trước thuế DT: Doanh thu Tỷ suất LN theo DT được hiểu là số tiền mà DN có thể thu về LNTT trong một kỳ kế toán là bao nhiêu sau trong một đồng DT mà DN đạt được. Nhiều DN chỉ tiêu DT khá lớn nhưng LNTT thu về lại nhỏ. Nguyên nhân là 11 do chi phí mà DN bỏ ra nhiều. Vì vậy, nếu tỷ suất LN theo DT lớn chứng tỏ DN hoạt động hiệu quả, DN phần nào tiết kiệm chi phí hoặc tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của DT.
* Tỷ suất LN theo chi phí LNTT TCP = (1.4) ∑CP Trong đó: TCP: Tỷ suất LNTT theo chi phí ∑CP: Chi phí bỏ ra trong kỳ Tỷ suất LN theo chi phí được hiểu đó là trong một kỳ kế toán DN sẽ thu được về bao nhiêu đồng LNTT khi phải bỏ ra 1 đồng chi phí. Các nhà quản lý DN luôn mong muốn với chi phí mà mình bỏ ra phải thu được về thật nhiều LN. Tuy nhiên cũng có những kỳ kế toán mặc dù chi phí tăng nhưng LN lại bị giảm hoặc chi phí tăng 2 lần nhưng LN lại chỉ tăng chưa tới 1 lần. Điều này cho thấy việc sử dụng chi phí là chưa hiệu quả.
Vì vậy tỷ suất LN theo chi phí càng lớn càng tốt. * Tỷ suất LN theo vốn LNTT TVKD = (1.5) VKD Trong đó: TVKD: Tỷ suất LNTT theo tổng vốn VKD : Vốn kinh doanh bình quân Cũng giống như chỉ tiêu trên, tỷ suất LN theo vốn là chỉ tiêu được hiểu DN sẽ thu được về bao nhiêu đồng LNTT trong một kỳ kế toán khi phải bỏ ra một đồng vốn KD.