CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, VIÊN CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức tại cơ quan sự nghiệp công lập 1. Khái niệm và phân loại cán bộ, viên chức 1. Khái niệm Luật Viên chức được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012.
[tr 3, 4] Điều 2 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Phân loại cán bộ, viên chức - Căn cứ vào đặc điểm pháp lý mà viên chức đảm nhận: + Viên chức phụ trách: Là những người có chức danh nhất định thuộc cơ quan nhà nước. Ðể thực hiện nhiệm vụ thì nhân viên phụ trách có quyền quản lý tài sản nhà nước theo qui định của pháp luật. Quyết định của viên chức phụ trách không được làm nảy sinh hoặc sửa đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật nhất định.
[tr 3, 4] + Nhân viên giúp việc: Là những người giúp việc trực tiếp thực hiện những hoạt động vật chất và kỹ thuật sau: đánh máy các thông tin liên hệ, lưu giữ giấy tờ và lái xe. Ðặc đặc điểm pháp luật của hoạt động giúp việc là không trực tiếp làm nảy sinh hoặc sửa đổi hay huỷ bỏ những hành vi pháp luật nhất định. Hoạt động của lực lượng nhân viên giúp việc đóng góp tích cực cho quá trình thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính. - Dựa theo nhiệm vụ công việc của viên chức có thể phân chia thành: viên chức lãnh đạo, viên chức chuyên môn và viên chức quản lý nghiệp vụ - kỹ thuật.
8 + Viên chức lãnh đạo: Là nhóm người thực hiện các nhiệm vụ có chức năng hoạt động là quyết định và chỉ đạo thực hiện quyết định. + Viên chức chuyên môn: Là những người làm nhiệm vụ chuẩn bị ra ý tưởng và quyết định hoặc chuẩn bị tài liệu và làm công việc chuyên môn hỗ trợ viên chức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ. + Viên chức chuyên môn nghiệp vụ - kỹ thuật: Là những người làm các nhiệm vụ chuyên môn hỗ trợ người lãnh đạo và viên chức chuyên môn chuẩn bị dự thảo văn bản quyết định và triển khai thực hiện quyết định. - Căn cứ theo chức danh nghề nghiệp: Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau: + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV 1.2 Khái niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức trong cơ quan sự nghiệp công lập 1.1 Khái niệm về chất lượng Có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng : Theo từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thì chất lượng được hiểu là: "Cái cấu tạo nên phẩm chất và tính cách của mỗi cá nhân hay một sự vật hoặc một hiện tượng".
Đây là việc nhìn nhận một cá nhân hoặc một sự việc hay một sự vật trong cái đặc thù và cái tính chất riêng biệt của nó. Theo Viện Hàn lâm khoa học xã hội: "Chất lượng là phạm trù triết học biểu hiện các thuộc tính cơ bản của sự vật và nêu rõ ràng đấy là những đặc điểm và tính chất cố định như thế nào của sự vật, so với những sự vật khác. Chất lượng là thuộc tính tự nhiên của sự vật. Chất lượng thể hiện ra bên ngoài thông qua các thuộc tính.
[tr 16, 3] Gắn kết các thuộc tính của sự vật như là một và gắn kết sự vật như một toàn thể, bao trùm cả sự vật và không thể nào rời bỏ sự vật ".Sự vật trong lúc 9 không phải là chính sự vật thì không thể nào thay đổi chất lượng của nó. Sự mất chất lượng là sự biến đổi của sự vật một cách cơ bản". Để có đủ lực lượng cán bộ cán bộ cả "hồng" và "chuyên" xứng đáng là công bộc của nhân dân, và đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ mới đề ra thì cần thiết phải có hệ tiêu chí về công tác cán bộ và cán bộ cơ quan hành chính nhà nước. Tiêu chuẩn cán bộ là hệ thống quy định cụ thể hoá những tiêu chuẩn như tuổi tác, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, sự am hiểu lý luận chính trị - xã hội, bản lĩnh chính trị và năng lực thích ứng với sự thay đổi của tình hình kinh tế mới.2 Khái niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức Khi xét về chất lượng của đội ngũ CB, VC của cơ quan sự nghiệp công lập là xét về toàn diện các phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ của cơ quan, các phẩm chất và năng lực trên phản ánh khả năng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, viên chức đặc biệt là hoàn thành các nhiệm vụ khi đã được cơ quan có thẩm quyền giao theo luật định.
Khi xét đến chất lượng của đội ngũ CB, VC của cơ quan sự nghiệp công lập cần xem xét về hai thuộc tính: Một là, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, viên chức của cơ quan sự nghiệp công lập gồm: trình độ và năng lực, các kỹ năng và phẩm chất chính trị, đạo đức. Đó là tập hợp những kiến thức đã được trang bị và kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá thể và nhân tố tiềm năng hoặc bẩm sinh nhằm nâng cao khả năng làm việc. ‘ Hai là, khả năng hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được phân công. Ở phương diện này thì đó là cách nhìn nhận của cơ quan quản lý nhà nước và đối tượng được thụ hưởng là cán bộ, viên chức của cơ quan sự nghiệp công lập đang làm việc.
Từ các nghiên cứu trên thì chúng ta sẽ thấy: chất lượng của đội ngũ cán bộ, viên chức của cơ quan sự nghiệp công lập là tổng hoà những yếu tố như phẩm chất nhân cách và phẩm chất đạo đức tốt, trình độ lý luận, chính trị và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, phong cách làm việc và nếp sinh hoạt, giờ giấc, tình hình sức khoẻ và khả năng đáp ứng cũng như khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.3 Đặc điểm của cán bộ, viên chức trong cơ quan sự nghiệp công lập Cán bộ, viên chức đều là người có quốc tịch Việt Nam, có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, đáp ứng các điều kiện để trở thành cán bộ viên chức. Cán bộ, viên chức thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể, thường xuyên trong phạm vi được quy định. Cán bộ, viên chức được đảm bảo được hưởng về tiền lương, tiền công, và chế độ lao đông theo quy định của pháp luật. Cán bộ, viên chức được tham gia bảo hiểm xã hội và được hưởng các chế độ về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Viên chức phải là công dân Việt Nam, trở thành viên chức thông qua hình thức tuyển dụng vào vị trí việc làm. Viên chức sẽ có thời gian tập sự quy định trong hợp đồng làm việc từ khoảng 03 tháng đến 12 tháng. Viên chức được phân theo các chức danh nghề nghiệp. Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc.
Với viên chức thì được nhận lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Với viên chức có thể bị kỷ luật theo các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc, ngoài ra còn có thể bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp của mình. Viên chức thực hiện các công việc do đơn vị quản lý giao cho mang tính chuyên môn nghiệp vụ, không có tính quyền lực nhà nước. Phải chịu mọi trách nhiệm trước đơn vị quản lý viên chức.4 Vị trí và vai trò của đội ngũ cán bộ, viên chức trong cơ quan sự nghiệp Viên chức thực hiện các công việc do đơn vị quản lý giao cho mang tính chuyên môn nghiệp vụ, không có tính quyền lực nhà nước.
Phải chịu mọi trách nhiệm trước đơn vị quản lý viên chức. - Thực hiện công tác hoặc nhiệm vụ được giao đảm bảo cả về tiến độ và chất lượng. - Cán bộ, viên chức là những người thực hiện công tác chuyên trách theo biên chế và phân công của UBND hoặc HĐND cùng cấp nhà nước có nhiệm vụ 11 tham mưu và giúp việc UBND hoặc HĐND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được giao và thực hiện những nhiệm vụ khác được lãnh đạo cùng cấp giao phó. - Cán bộ, viên chức là người trực tiếp tham mưu giúp lãnh đạo lãnh đạo các cấp nhà nước trong quá trình quản lý và chỉ đạo công tác nhằm thực hiện đường lối quan điểm của Đảng và chính sách, luật pháp của Nhà nước và trực tiếp đối thoại với nhân dân để phụng sự nhân dân và thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo chế độ chính sách và quyền hạn được cấp được giao.
Vai trò của đội ngũ cán bộ, viên chức được thể hiện qua (Chương II Luật Viên chức 2010). [tr 23, 7] Nghị định của Chính phủ. Cán bộ, viên chức nhà nước có những vai trò sau: - Là đội ngũ cán bộ chủ chốt có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng công tác của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, biến những chính sách và thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thành hiện thực và tiếp nhận ý kiến của nhân dân để nắm vững các vấn đề của thực tế của đời sống nhằm đề đạt kịp thời với cấp trên và là một trong các nhân tố góp phần thúc đẩy việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước nhà. - Lực lượng cán bộ, viên chức có địa vị và vai trò quan trọng đối với việc triển khai và thực hiện tốt những chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ở cơ sở.
Thông qua họ mà ý Đảng và lòng dân kết thành một thể thống nhất và làm cho Đảng.