phần mở đầu và phần kết luận gồm 3 chƣơng chính là Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp 3 Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nhân lực tại Công ty cổ phần thƣơng mại Mạnh Toàn Chƣơng 3: Biện pháp hoàn thiện quản lý nhân lực tại công ty cổ phần thƣơng mại Mạnh Toàn Vì thời gian và trình độ tác giả có hạn, luận văn không thể tránh đƣợc những thiếu sót nhất định, rất mong đƣợc sự góp ý của quý thầy cô và các bạn. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của quản lý nhân lực [1] [4] [5] [13] [15] [10] [14] 1. Khái niệm quản lý nhân lực * Khái niệm nhân lực Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, do vậy phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nƣớc trên thế giới.
Hiện nay, có khá nhiều cách tiếp cận cũng nhƣ cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực: “Nguồn nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con ngƣời có sức lao động”. Quan niệm này xem nhân lực là yếu tố nội tại, tồn tại trong bản thân mỗi con ngƣời, không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố môi trƣờng bên ngoài xã hội. “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định”.
Theo cách hiểu này thì nguồn nhân lực cũng là yếu tố nội tại trong con ngƣời nhƣng đƣợc đặt trong mối quan hệ với chủ thể khác là tổ chức hay cơ cấu kinh tế - xã hội. “Với tƣ cách là sự phát triển của kinh tế xã hội, nguồn nhân lực có thể hiểu là sự tổng hợp từ các cá nhân tham gia vào lao động. Đó là tổng thể các yếu tố bao gồm thể chất và tinh thần đƣợc ngƣời lao động, DN huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh. Với cách hiểu này nguồn nhân lực chính là những ngƣời trong độ tuổi lao động”.
5 Có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của sức lao động của con ngƣời và khả năng huy động sức mạnh đó tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội ở hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc biểu hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu lao động, quan trọng hơn cả là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào quá trình sản xuất chung của xã hội”. * Khái niệm quản lý nhân lực Quản lý nhân lực là công tác quản lý con ngƣời trong phạm vi nội bộ một DN, thể hiện qua sự cách thức, biện pháp hành xử của DN với ngƣời lao động. Theo giáo sƣ ngƣời Mỹ Dimock: “Quản lý nhân lực bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một DN và giải quyết tất cả các trƣờng hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó”.
Giáo sƣ Felix Migro thì cho rằng: “Quản lý nhân lực là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lƣợng công việc của mỗi ngƣời đều đạt mức tối đa có thể”. Do đó, quản lý nhân lực đƣợc hiểu là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản lý và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con ngƣời gắn với công việc của họ trong bất cứ DN nào. “Quản lý nhân lực là các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lƣợng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức về cả mặt số lƣợng và chất lƣợng”. Ngày nay, quản lý nhân lực là một mảng chiến lƣợc ảnh hƣởng đến tất cả các hoạt động triển khai nhân lực nhằm duy trì hoạt động của các DN và nó một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các DN.
Nhận biết DN nào đó hoạt động tốt, hiệu quả hay không chính là dựa vào yếu tố lực lƣợng lao động của DN đó. Thông qua những con ngƣời cụ thể với thể lực và tri thức cùng với lòng nhiệt tình, sự cống hiến của họ. 6 Quản lý nhân lực đề ra: mục tiêu, chính sách, kế hoạch sử dụng nhân lực nhằm đảm bảo phù hợp với công việc, tiến độ, mục tiêu của DN và bố trí phù hợp lực lƣợng lao động làm việc theo từng vị trí, chức năng. Bên cạnh đó quản lý nhân lực đề ra phƣơng hƣớng hoạt động cho DN nhằm duy trì ƣu thế cạnh tranh thông qua việc xác định những vấn đề liên quan về nhân lực, chiến lƣợc nhân lực.
Có thể thấy quản lý nhân lực có liên hệ chặt chẽ với chiến lƣợc phát triển của DN. Quản lý nhân lực giúp tìm kiếm, phát hiện và phát triển những hình thức hay những phƣơng pháp tốt nhất để ngƣời lao động có thể nhìn nhận đƣợc. Từ đó tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động phát huy hết tâm huyết của mình cho DN. Do vậy, có thể khẳng định quản lý nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của DN.
Vai trò nguồn nhân lực Bất kỳ một DN nào khi tiến hành các hoạt động SXKD cũng đều phải hội tụ đủ hai yếu tố, đó là nhân lực và vật lực: trong đó nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN. Yếu tố con ngƣời mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trƣờng nên các DN muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức của mình theo hƣớng tinh gọn nhẹ, năng động trong đó yếu tố con ngƣời mang tính quyết định. Con ngƣời với kỹ năng và trình độ riêng của mình sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tƣợng lao động để tạo ra sản phẩm cho xã hội.
Quá trình này cũng đƣợc tổ chức và điều khiển bởi con ngƣời, con ngƣời thiết kế và sản xuất ra sản phảm, kiểm tra chất lƣợng, đƣa sản phẩm ra bán trên thị trƣờng, phân bổ nguồn tài chính, xác định các chiến lƣợc chung và các mục tiêu cho tổ chức. Nghiên cứu quản lý nhân lực giúp cho nhà quản lý đạt đƣợc mục đích, kết quả thông qua ngƣời khác. Một nhà quản lý có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại chính xác,v.nhƣng nhà quản lý đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng 7 ngƣời cho đúng việc, hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc. Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý cần biết cách làm việc và hòa hợp với ngƣời khác, biết cách lôi kéo ngƣời khác, tạo động lực cho họ làm việc theo mình.
Nghiên cứu quản lý nhân lực giúp cho nhà quản lý học đƣợc cách giao dịch với ngƣời khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đƣa chiến lƣợc con ngƣời trở thành một bộ phận hữu cơ trong chiến lƣợc kinh doanh của DN. Trong DN quản lý nhân lực thuộc chức năng chính của nhà quản lý. Các nhà quản lý có vai trò đề ra các, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách có tính chất định hƣớng cho sự phát triển của DN, do đó nhà quản lý phải là ngƣời biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Ngƣời thực hiện các đƣờng lối chính sách mà nhà quản lý đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy có thể nói rằng: “mọi quá trình quản lý suy cho cùng cũng là quản lý con ngƣời”.
Quản lý nhân lực góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh doanh nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho ngƣời lao động hƣởng thành quả do họ làm ra. Quản lý nhân lực có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một DN, nó là hoạt động bề sâu, chìm bên trong DN nhƣng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Quản lý nhân lực gắn liền với mọi tổ chức.
Bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân lực. Quản lý nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản lý, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp 8 nơi trong mọi tổ chức. Quản lý nhân lực hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản lý nào cũng có nhân viên dƣới quyền vì thế đều phải có quản lý nhân lực. Cung cách quản lý nhân lực tạo ra bầu không khí văn hoá cho một DN.
Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một DN. - Trong vai trò dịch vụ, phòng quản lý nhân lực tổ chức việc tuyển dụng, đào tạo, tiền lƣơng, phúc lợi và thực thi các chính sách khác đối với ngƣời lao động trong DN. Đối với những việc có thể và cần giao cho cấp quản lý tự thực hiện (theo quy định phân cấp quản lý), phòng quản lý nhân lực góp ý kiến và tạo điều kiện để làm đúng quy định với hiệu quả cao. Phòng quản lý nhân lực thống nhất quản lý hồ sơ nhân lực, quản lý quỹ lƣơng, BHYT, BHXH, khen thƣởng và kỷ luật, an toàn lao động.