Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công tác quản lý kiểm soát hải quan. Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý kiểm soát hải quan tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng. Chương 3: Phương hướng và biện pháp hoàn thiện công tác quản lý kiểm soát hải quan tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HẢI QUAN 1.
Khái niệm Đứng trên góc độ quản lý, Giáo trình Quản lý học của Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch. Kiểm soát hải quan: Theo Điều 4 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014, Kiểm soát hải quan được định nghĩa như sau: Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan. Ở các quốc gia phương Tây, Nhật Bản, cũng là những quốc gia tham gia công ước Kyoto, kiểm soát hải quan được hiểu có hai nội dung chủ yếu: Phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật hải quan và hỗ trợ các doanh nghiệp hay hỗ trợ thương mại thế giới. Điều này được minh chứng bởi sự ra đời của công ước Kyoto, được thông qua ngày 18/3/1973 và có hiệu lực từ ngày 25/7/1974 và công ước của tổ chức hải quan thế giới (WCO) về đơn giản hóa, hài hòa các thủ tục hải quan năm 1999.
Tại công ước này hiểu rằng: “Kiểm soát hải quan là biện pháp được cơ quan hải quan tiến hành nhằm đảm bảo thực thi pháp luật hải quan cũng như tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển”. Một trong những mục tiêu của thực thi pháp luật hải quan hiểu theo khái niệm trên là thúc đẩy thương mại quốc tế và toàn cầu hóa. Điều này được thể hiện ở điểm III nghị định thư về sửa đổi công ước Kyoto năm 1999 ghi rõ kiểm soát hải quan, một mặt là ngăn ngừa vi phạm pháp luật hải quan, mặt khác là tạo điều kiện thúc đẩy thương mại thế giới và toàn cầu hóa. Như vậy, nội dung trên có thể cho phép chúng ta thấy rằng, kiểm soát hải quan có hai nội dung chủ yếu: Phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, trốn thuế, … mặt khác là hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động XNK hàng hóa 11 cũng như mở rộng giao lưu thương mại quốc tế.
Nói một cách khác, kiểm soát hải quan là một quá trình có hai mặt, một mặt là ngăn chặn và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật hải quan, mặt khác là hỗ trợ XNK hay thương mại thế giới và giao lưu quốc tế. Đây là khái niệm được thống nhất sử dụng trong luận văn. Tuy nhiên, do nội dung kiểm soát hải quan rất rộng và phức tạp, nên tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu nội dung thứ nhất, tức là tập trung nghiên cứu ngăn chặn và phòng ngừa các vi phạm pháp luật hải quan. Trên phương diện này, công tác kiểm soát hải quan tại cơ quan Hải quan cấp Cục có những đặc điểm sau: - Có nội dung rộng, bao quát, có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới nhiều đối tượng thực hiện hoạt động mua, bán hàng hóa qua biên giới.
- Công tác kiểm soát hải quan thường phải chịu áp lực về mặt thời gian do tính chất của hoạt động phòng, chống buôn lậu cần phải kịp thời để bảo đảm mục tiêu ngăn chặn, bắt giữ và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật, qua đó tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy thương mại. - Khối lượng công việc cần phải kiểm soát tương đối lớn do số lượng cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại lớn, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới phân tán rộng trên nhiều địa bàn. Nội dung công tác kiểm soát hải quan tại cơ quan Hải quan cấp Cục [ 2, Tr. 72 ] Trong công tác kiểm soát hải quan, tùy theo đối tượng, hoàn cảnh, ý đồ nghiệp vụ mà cán bộ hải quan có thể sử dụng một trong hai phương thức: công khai và bí mật.
- Công khai: gồm các biện pháp tuần tra, kiểm tra, khám xét, bắt giữ, xử lý. - Bí mật: gồm các biện pháp trinh sát, cơ sở bí mật, điều tra cơ bản, sưu tra, chuyên án, Phương thức công khai phải đáp ứng yêu cầu bí mật, đặc biệt về ý đồ 12 chiến thuật công tác, trong sử dụng lực lượng, đội ngũ, trong xử lý thông tin,. biện pháp vừa công khai, vừa bí mật như biện pháp tuần tra. Giữa hai phương thức có quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ nhau.
Nội dung kiểm soát hải quan tại cơ quan Hải quan cấp Cục khá phức tạp, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung vào 03 nội dung chính: 1. Tuyên truyền pháp luật, vận động quần chúng tham gia phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới [ 2, Tr. 72 ] Tuyên truyền pháp luật, vận động quần chúng là biện pháp nghiệp vụ do lực lượng kiểm soát hải quan tham mưu và trực tiếp thực hiện rộng rãi và cá biệt nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của chính quyền, các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội, các cơ quan đơn vị và quần chúng nhân dân nắm được pháp luật và tạo điều kiện giúp đỡ cơ quan hải quan thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hải quan và phục vụ, thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan. Những bài học kinh nghiệm của Đảng và Nhà nưóc ta cho thấy, nếu xa rời quần chúng, không phát huy được sức mạnh từ quần chúng nhân dân thì sẽ thất bại trong mọi công tác.
Hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới chủ yếu diễn ra ở biên giới, cửa khẩu, địa hình phức tạp, địa bàn rộng lớn. Trong khi đó, lực lượng hải quan lại mỏng nên cần thiết phải tạo được phòng tuyến chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới từ quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế, nhận thức kém, nhiều cư dân ở biên giới dễ bị bọn buôn lậu lợi dụng vận chuyển hàng lậu, thậm chí không ít người đã bị dụ dỗ, mua chuộc, sẵn sàng chống trả lại các lực lượng chức năng. Vì vậy, vận động quần chúng không chỉ đơn thuần là biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan mà còn là chủ trương lớn của toàn ngành Hải quan.
Mục đích vận động quần chúng bao gồm những nội dung sau: - Nâng cao nhận thức của quần chúng về tác hại của buôn lậu đối với 13 sự ổn định và phát triển kinh tế, có ý thức tham gia phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. - Tuyên truyền cho quần chúng về tình hình, kiến thức để phát hiện đối tượng, phương thức thủ đoạn để cùng cơ quan Hải quan đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới có hiệu quả. - Tạo phong trào quần chúng, không tham gia buôn lậu, không tiếp tay, chủ động phát hiện, tố giác các đối tượng buôn lậu, vận chụyển trái phép hàng hóa quan biên giới. Thu thập, phân tích, đánh giá thông tin về hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới [2, Tr.
72 ] Khác với phương thức quản lý theo vụ việc, theo từng tờ khai trước đây, hiện nay công tác quản lý hải quan được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro. Theo đó, Hải quan sẽ tập trung quản lý vào những đối tượng có khả năng vi phạm pháp luật cao trên cơ sở các phân tích đánh giá rủi ro, dữ liệu, thông tin tình báo. Trong đó, thu thập phân tích, đánh giá thông tin là hoạt động chủ đạo. Thông tư 728/2018/TT-BTC ngày 15 tháng 06 năm 2018 của Bộ Tài chính, thu thập, xử lý thông tin trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan là hoạt động trọng tâm của lực lượng kiểm soát hải quan thông qua việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan và ứng dụng công nghệ thông tin công khai hoặc bí mật nhằm thu thập, tổng hợp, đánh giá, phân tích làm rõ thông tin và cung cấp thông tin đã được xử lý cho các đơn vị, cá nhân phục vụ cho công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Thông tin nghiệp vụ hải quan được thu thập từ hai nguồn sau: - Thông tin công khai: Từ các phương tiện thông tin đại chúng; các đơn vị hải quan; khai báo hải quan; dữ liệu ngành hải quan; thông tin của tổ chức liên quan; thông tin hải quan các nước, tổ chức hải quan thế giới, tổ chức 14 quốc tế. - Thông tin bí mật: Từ kết quả hoạt động của đơn vị kiểm soát hải quan, hoạt động trao đổi thông tin với cơ quan chức năng; Thông tin tố giác vi phạm pháp luật về hải quan; Thông tin từ cơ quan hải quan chống buôn lậu của các nước; Thông tin do công chức chuyên thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan; Từ cơ sở bí mật. - Các biện pháp trinh sát, bao gồm: + Trinh sát ngoại tuyến: Là hoạt động bố trí công chức hải quan bí mật theo dõi, kiểm tra, giám sát diễn biến, hoạt động của đối tượng, của hàng hóa, hành lý, phương tiện cần điều tra để phát hiện, xác minh, xác định hành vi vi phạm của đối tượng, diễn biến của hàng hóa, hành lý, phương tiện hoặc giải quyết những yêu cầu nghiệp vụ khác trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. + Trinh sát kỹ thuật: Là hoạt động bí mật sử dụng các phương tiện, kỹ thuật nghiệp vụ chuyên dụng theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, theo dõi diễn biến, hoạt động nghi vấn của đối tượng và thu thập thông tin, tài liệu phục vụ nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu.
Sau khi tiếp nhận thông tin, hải quan xử lý như sau: - Phân tích, đánh giá, làm rõ thông tin thu thập. - Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin. - Cung cấp thông tin cho các cá nhân, đơn vị có thẩm quyền sử dụng. - Kiểm tra, đánh giá hiệu quả thông tin đã cung cấp.