mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu đồ, tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ xây dựng đối với các dự án, công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc 3 Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng đối với các dự án, công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn Huyện Cát Hải, Thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng đối với các dự án, công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn Huyện Cát Hải, Thành phố Hải Phòng 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Đầu tƣ xây dựng sử dụng vốn NSNN 1. Khái niệm, đặc trưng về đầu tư * Khái niệm về đầu tư Cho đến nay, có nhiều khái niệm về đầu tƣ. Tuỳ theo phạm vi nghiên cứu mà hình thành nên những khái niệm khác nhau về đầu tƣ.
Chẳng hạn theo nghĩa rộng, trên quan điểm vĩ mô: đầu tƣ là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai. Nguồn lực đã bỏ ra có thể là tài sản vật chất, tài nguyên thiên nhiên hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền là tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tƣ. Kết quả của đầu tƣ đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật… của ngƣời dân).
Các kết quả đạt đƣợc của đầu tƣ đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hoặc theo khía cạnh cụ thể hơn thì: đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ hoặc xã hội kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó. “Nhƣ vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tƣ thì đầu tƣ là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cƣ hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có.” [2, tr5] * Đặc trưng của hoạt động đầu tư - Một là, hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tƣ trƣớc hết là quyết định việc sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dƣới các hình thức khác nhau nhƣ tiền, đất đai, tài sản, vật tƣ thiết bị, giá trị trí tuệ… 5 Vốn đƣợc hiểu nhƣ là các nguồn lực sinh lợi. Dƣới các hình thức khác nhau nhƣng vốn có thể xác định dƣới hình thức tiền tệ.
Vì vậy các quyết định đầu tƣ thƣờng đƣợc xem xét từ phƣơng diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn, có khả năng thực hiện không, có khả năng thu hồi vốn đƣợc không, mức sinh lời bao nhiêu…). Nhiều dự án có thể khả thi ở các phƣơng diện khác (kinh tế, xã hội) nhƣng không khả thi về phƣơng diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên phƣơng diện thực tế. [1, tr7] - Hai là, hoạt động có tính chất lâu dài Khác với các hoạt động thƣơng mại, hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tƣ luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Do tính chất đó nên mọi sự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố.
Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án. - Ba là, hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trƣớc mắt và lợi ích tƣơng lai Đầu tƣ về một phƣơng diện nào đó là một sự hi sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích tƣơng lai (vốn để đầu tƣ không phải là các nguồn lực để dành), vì vậy luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tƣơng lai. Rõ ràng rằng nhà đầu tƣ mong muốn và chấp nhận đầu tƣ chỉ trong điều kiện lợi ích thu đƣợc trong tƣơng lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hi sinh (không tiêu dùng hoặc không đầu tƣ vào nơi khác). [1, tr7] - Bốn là, hoạt động có tính rủi ro cao Các đặc trƣng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tƣ là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.
Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tƣ lƣợng tính hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tƣ so với dự tính. Vì vậy, chấp nhận rủi ro nhƣ là bản năng của nhà đầu tƣ. Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tƣ cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro sai khác so với dự tính là thấp nhất. Khái niệm, phân loại dự án đầu tư * Khái niệm dự án đầu tư Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tƣ đem lại hiệu quả KTXH cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị.
Sự chuẩn bị này đƣợc thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tƣ có nghĩa là phải thực hiện đầu tƣ theo dự án đã đƣợc soạn thảo với chất lƣợng tốt. Dự án đầu tƣ là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tƣợng nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng, cải tiến hoặc nâng cao chất lƣợng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. * Phân loại dự án đầu tư Có nhiều cách phân loại dự án đầu tƣ tùy theo mục đích và phạm vi xem xét. Ở đây chỉ nêu cách phân loại liên quan đến quản lý dự án đầu tƣ trong hệ thống văn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành.
[6, tr8] - Theo nguồn vốn: có thể chia dự án thành dự án đầu tƣ bằng nguồn vốn NSNN; vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc; vốn tín dụng do Nhà nƣớc bảo lãnh; vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác; dự án đƣợc đầu tƣ bằng nguồn vốn hỗn hợp… - Theo luật chi phối: dự án đƣợc chia ra thành dự án đầu tƣ theo Luật đầu tƣ, theo luật đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp (FDI) tại Việt Nam. - Theo các hình thức thực hiện đầu tƣ: Xây dựng, mua sắm, thuế… - Theo lĩnh vực đầu tƣ: dự án SXKD, dịch vụ, phát triển cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội… 1. Đầu tư bằng ngân sách Nhà nước Đầu tƣ phát triển bằng NSNN là việc sử dụng phần vốn NSNN dành cho đầu tƣ phát triển, vốn vay nƣớc ngoài của Chính phủ và hỗ trợ phát triển 7 chính thức của nƣớc ngoài (ODA), vốn tín dụng đầu tƣ của các ngân hàng quốc doanh và vốn đầu tƣ của doanh nghiệp Nhà nƣớc, dùng để đầu tƣ vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh tế quốc dân, các dự án đầu tƣ có hiệu quả, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH – HĐH. Những ngành này cần một lƣợng vốn đầu tƣ lớn, thời lƣợng xây dựng và thu hồi vốn dài… [18, tr8] Đầu tƣ phát triển bằng NSNN chủ yếu đƣợc tiến hành theo kế hoạch Nhà nƣớc nhằm thực hiện mục tiêu chiến lƣợc phát triển KTXH theo từng thời kỳ.
Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn trực tiếp của từng dự án đầu tƣ và tính chất nguồn vốn, hiện tại Nhà nƣớc định ra ba hình thức đầu tƣ phát triển đó là: cấp phát đầu tƣ, tín dụng đầu tƣ và doanh nghiệp tự đầu tƣ. Hình thức cấp phát dành cho các dự án đầu tƣ không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc các lĩnh vực nhƣ kết cấu hạ tầng KTXH, các dự án giao thông, thủy lợi, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng bộ, rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, trạm thú ý, động thực vật, nghiên cứu giống mới và cải tạo giống, dự án bảo vệ môi trƣờng sinh thái, dự án an ninh quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động công ích, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân theo quyết định của Chính phủ, các dự án quy hoạch ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn, các chƣơng trình, dự án phát triển KTXH. Tất cả nhu cầu vốn trên đƣợc cân đối từ NSNN. Hình thức tín dụng đầu tƣ xây dựng hạ tầng kinh tế, các cơ sở SXKD tạo việc làm có khả năng thu hồi vốn; các dự án đầu tƣ cho một số ngành kinh tế quan trọng của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ (nhƣ điện, xi măng, sắt, thép…), các dự án đầu tƣ của ngành đảm bảo hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn.
Các nhu cầu vốn này một phần đƣợc NSNN bố trí theo từng thời kỳ, số còn lại là vốn tín dụng đầu tƣ của ngân hàng quốc doanh. 8 Hình thức doanh nghiệp tự đầu tƣ dành cho dự án đầu tƣ mới hoặc mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp nhà nƣớc bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp. Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý theo hƣớng xóa bao cấp về vốn đầu tƣ, chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh, xu hƣớng hình thức cấp phát vốn đầu tƣ sẽ giảm thay vào đó hình thức đầu tƣ vốn tín dụng sẽ tăng lên. Đầu tƣ vốn bằng NSNN có điểm khác cơ bản với đầu tƣ bằng vốn không phải của Nhà nƣớc là cơ chế quản lý.
Do chủ sở hữu vốn đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc là Nhà nƣớc, chủ đầu tƣ chỉ là ngƣời sử dụng vốn nên cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đi liền với việc kiểm tra, giám sát, để hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng phí. Còn đầu tƣ không phải của Nhà nƣớc, chủ đầu tƣ là chủ sở hữu vốn đích thực nên cơ chế quản lý đơn giản, nhanh gọn hơn. Quản lý Nhà nƣớc các dự án đầu tƣ sử dụng vốn NSNN 1.