Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.
Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 6. Giả thuyết khoa học 7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 8.
Đóng góp của luận văn 9. Cấu trúc của luận văn B. Phần nội dung 6 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH 1.
Lịch sử nghiên cứu về giáo dục giới tính Vấn đề GDGT là vấn đề nghiên cứu khá phổ biến của một số nhà nghiên cứu Tâm lý học. Việc nghiên cứu GDGT đã đạt đến những thành tựu nhất định trong giai đoạn hiện nay. Trong lịch sử, những nghiên cứu về GDGT đã hình thành từ rất sớm. Có thể nói khi con người bắt đầu quan tâm đến vấn đề giới tính, những tia sáng đầu tiên nghiên cứu về GDGT bắt đầu được quan tâm.
Những nghiên cứu về giáo dục giới tính ở nƣớc ngoài Từ xa xưa, ở phương Tây cũng như phương Đông, vấn đề giới tính và GDGT được nhìn nhận với sự chi phối của những tín niệm tôn giáo và đạo đức. Đến đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự phổ biến của các phương tiện thông tin đại chúng trong xã hội và nhất là việc gia tăng dân số, vấn đề GDGT được nhấn mạnh và đề cập ngay ở độ tuổi MG. Ở Liên Xô trước đây: Nhiều công trình nghiên cứu, trong đó các công trình của P. Raicop đã chỉ ra sự hiện hữu của một số biểu hiện tính dục sớm ở trẻ em… và mối quan hệ chặt chẽ giữa GDGT với các hoạt động cá nhân của trẻ.
Xukhomlinxki cũng có những đóng góp quan trọng về lĩnh vực GDGT và coi đó là một nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh [22, tr. Ở châu Âu, người ta cũng tiến hành GDGT từ rất sớm (Thụy Điển, Đức, Hà Lan, Đan Mạch…), song phải đến thập kỉ 60 của thế kỉ XX, GDGT mới được khẳng định và nghiên cứu rộng rãi. Các nhà khoa học Đức quan niệm rằng: “ Những hiểu biết khoa học về vấn đề GDGT cần được trang bị ngay cho cả các cô mẫu giáo, vườn trẻ. Ở đó cũng cần đến giáo dục về mối quan hệ đúng đắn giữa những người khác giới” [20, tr.
Có thể kể đến một số nghiên cứu cụ thể về hành vi giới tính ở trẻ em như sau: Singmurh Freud, cha đẻ trường phái phân tâm. Năm 1915 ông đưa ra các giai đoạn phát triển tâm lí tính dục của trẻ em từ 0 - 15 tuổi. 7 Học thuyết phát triển nhận thức về giới của L. Kohlberg đưa ra các giai đoạn trong sự hiểu biết về tính bất biến giới tính của trẻ.
Trước 5 tuổi, ở trẻ có ít những hiểu biết về hoạt động phù hợp với giới tính. Thuyết sơ đồ giới tính của Martin và Haverson – mặt khác – lại cho rằng khi ở trẻ nhỏ có cơ sở thông tin về giới tính cũng đủ để giúp trẻ bắt đầu hình thành những qui tắc liên quan đền giới tính. Nghiên cứu của Fagot (197) trên 200 trẻ MG trong khi chơi đã cho thấy rằng, trẻ có những phản ứng đặc biệt đối với những bạn không thự c hiện đúng mẫu hành vi giới tính. Ví dụ bé trai thích chơi với búp bê sẽ bị bạn chỉ trích nhiều hơn 5 – 6 lần so với số trẻ tuân thủ vai trò giới.
Mặt khác, những trẻ gái thích chơi làm lính cứu hỏa hơn làm y tá thì không bị chỉ trích gì. Sự bắt buộc, động viên trong nhóm trẻ cũng tạo ra những hiệu quả khác nhau. Ví dụ, Fagot (1985) trong một nghiên cứu khác phát hiện ra rằng, trẻ hay đáp lại thông tin phản hồi của bạn cùng giới hơn là bạn khác giới.Kiểu phản hồi này tạo ra sự thể hiện khác nhau trong hành vi của trẻ. Theo các nghiên cứu của Lamb (1979) và Holden (1980), sự chỉ trích của bạn bè chính là một biện pháp hữu hiệu để chấm dứt những hoạt động không phù hợp với giới tính của trẻ.
Đồng thời, những trẻ có hành vi vai trò giới phù hợp, được khen ngợi sẽ duy trì hoạt động đó lâu hơn. Cũng chính vì thế mà con gái có xu hướng tìm đến con gái, con trai tìm đến con trai để chơi nhiều hơn và tìm đến bạn khác giới. Các nghiên cứu của Maccobly, Powlishta, Jacklin cho biết, trẻ MG 4 – 5 tuổi sử dụng thời gian lớn gấp 3 lần để chơi với bạn cùng giới; đến 5 – 6 tuổi, con số này là 11 lần. Gần đây các nghiên cứu của các nhà tâm lí Schuhrke (2000) về nhận thức của trẻ em về hành vi tính dục cho thấy trẻ 2 tuổi bắt đầu nhìn, chơi với sờ mó và nhận xét về bộ phận sinh dục của mình và mời gọi người chăm sóc trẻ cùng làm giống trẻ [46, tr.
Nghiên cứu của Conger và Gamlambos (1997) cho thấy: Trẻ 4 – 6 tuổi biết dùng từ để mô tả bộ phận sinh dục, nhận ra sự khác biệt giữa nam và nữ. Tự khám phá cơ thể của mình, thông qua trò chơi đóng vai (trò chơi gia đình: cầm tay, hôn nhau), biết hỏi em bé sinh ra từ đâu, và có thể đề nghị được sờ vào bộ phận sinh dục của người khác trong trò chơi bác sĩ (khám bệnh) [46, tr. 8 Nghiên cứu của Volbert (2000), nghiên cứu bằng cách phỏng vấn 147 trẻ 2 – 6 tuổi. Kết quả cho thấy trẻ 2 – 5 tuổi chưa biết hành vi tính dục của người lớn.
Có 3 đứa trẻ 6 tuổi mô tả một cách công khai về hành vi tính dục. 1 bé trai có kiến thức nhiều nhất nói e đã thấy hành động này trong một bộ phim [46, tr. Nghiên cứu của Stafort và Cohen Kettenis (2000) trên các bà mẹ Hà Lan về hành vi giới tính của con mình mà họ quan sát được (nghiên cứu trên 351 trẻ trai và 319 trẻ gái từ 0 – 11 tuổi). Kết quả cho thấy: 97% trẻ đã biết sờ mó bộ phận sinh dục của mình, 60% trẻ chơi trò “bác sĩ” với bạn bè và khám phá cơ thể của bạn, 50% trẻ thủ dâm, 33% trẻ sờ vào bộ phận sinh dục người khác, 21% cho người khác xem bộ phận sinh dục của mình, 13% vẽ hình bộ phận sinh dục, 8% nói về hành động tình dục, 2% bắt chước hành vi tình dục với búp bê.
Những hành vi này tăng dần theo độ tuổi. Từ các nghiên cứu này các nhà giáo dục cho rằng cần phải GDGT cho trẻ càng sớm càng tốt [46, tr. Bởi vậy, một số nước trên thế giới đã bắt đầu GDGT cho trẻ khi trẻ còn nhỏ, cụ thể là: Tại Anh, trẻ mầm non phải được GDGT. Điều này được quy định cụ thể là khi trẻ 5 tuổi sẽ bắt đầu được học về giới tính như một môn học bắt buộc cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở.
Bất kể là trường công lập hay tư thục đều phải có môn học này. Chương trình với tên gọi “Khóa học nhà nước yêu cầu”. Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi. Ở châu Á, các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học.
Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục chi tiết sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi [49]. Trung Quốc đã tiến hành GDGT cho học sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiên cứu, và phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về giới tính. Trong cuốn sách “Giáo dục khoa học về giới tính – Dành cho trẻ mầm non” của tác giả Quý Thành Diệp – Ngô Hán Vinh do nhà xuất bản Phụ Nữ dịch lại đã giới thiệu một cách có hệ thống về giới tính của trẻ mầm non. Năm 2001, chính phủ Hồng Công chủ trường đưa GDGT vào các trường MG và nhà trẻ.
Ở Philippine, Bộ giáo dục đưa GDGT vào chương trình chính khóa bắt buộc ở trường phổ thông, 9 Ở Nhật những cuộc thảo luận về giới tính và những vấn đề nhạy cảm liên quan không hề hiếm tại các trường MG lớn. Giai đoạn đi MG là môi trường và cơ hội để dạy trẻ về giới tính, giúp các bé nhận thức và hiểu được sự khác biệt giữa bé trai và bé gái ở điểm nào để thiết lập ý thức tự bảo vệ bản thân. Tại Malaysia, trẻ em học giới tính từ khi lên 4. Malaysia là một trong những nước đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á thực hiện công tác phổ cập giáo dục cho trẻ em từ năm 4 tuổi.
Chương trình học của các bé sẽ do Bộ phát triển phụ nữ, gia đình và cộng đồng, Bộ giáo dục, các chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn [49]. Nội dung GDGT đã được lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hóa khác, chủ yếu là môn kế hoạch hóa gia đình qua các giờ chính khóa, và qua các hoạt động ngoại khóa theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau. Ở nước này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, công tác chỉ đạo giáo dục bình đẳng giới hiện nay của các nước trong khu vực rất được quan tâm, và có những tiến bộ vượt bậc.
Các trò chơi cho trẻ tại bậc mầm non đều được thiết kế đặc biệt để đảm bảo trẻ vừa được chơi tự do vừa được giáo viên hướng dẫn nhằm giúp trẻ phát triển khả năng tập trung, giải quyết vấn đề, sự bền bỉ. Ngoài ra, công tác đánh giá trẻ chơi như thế nào được chú trọng đặc biệt. Sự phát triển của trẻ được đánh giá liên tục. “Đó không phải là chơi tự do mà là học qua chơi”.
Bên cạnh việc GDGT cho trẻ em thì người Mỹ còn dạy cho trẻ em: Biết quý trọng mạng sống của mình và yêu quý người khác giới. Những nghiên cứu về giáo dục giới tính cho trẻ ở trong nƣớc Từ thượng cổ, tổ tiên tộc Việt đã có quan niệm về giới tính “Trời cha”, “ Đất mẹ”, Trời – đất như cặp nam nữ. Họ quan niệm khá cởi mở, phóng khoáng về tình dục, coi sinh hoạt nam nữ là hành vi tự nhiên, cần thiết để bảo tồn và phát triển nòi giống, có liên quan đến sự phồn vinh và hành phúc của quốc gia, dân tộc (hình tượng giao cấu của đôi trai gái trên mặt trống đồng Đông Sơn, truyện Chử Đồng Tử…).