Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu về giáo dục giới tính cho học sinh Nghiên cứu về giới tính, GDGT đã được quan tâm tìm hiểu, đề cập ngay từ thời xa sưa, bằng các câu chuyện thần thoại xoay quanh những vấn đề liên quan đến con người như tình yêu và giới tính,… chẳng hạn như ở đát nước Ấn Độ với các vấn đề được thể hiện trong Kinh “Kama Sutra”; trong câu chuyện về “Nghệ thuật yêu” của tác giả Ovidius, hoặc chuyện “Chuỗi ngọc của người yêu” của tác giả Hazma, tác giả Platon với “Phaedr” và “Bữa tiệc”. Mặc dù có những điểm khác biệt nhất định, song mục đích của các câu chuyện đều hướng đến con người để “Không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lý học tình dục” [dẫn qua 23].
Khi xã hội loài người bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, vấn đề GDGT được các nhà khoa học giáo dục chú ý và quan tâm nghiên cứu với mục đích muốn làm rõ những nội dung của sự phát triển về quan hệ tình dục của những người khác giới với hôn nhân và gia đình trong mối quan hệ chặt chẽ với phong tục tập quán và các các yếu tố tác động khác nhau của chế độ xã hội và nền văn hóa đương đại. Đi sâu vào khảo cứu đã cho thấy các công trình nghiên cứu về GDGT của một số nhà khoa học tiêu biểu như J. Qua tìm hiểu từ các nguồn sách, tài liệu, đề tài cho thấy khi bước vào những năm đầu tiên, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, xã hội loài người đang đối diện với vấn đề quan hệ giới tính, hôn nhân gia đình một cách cấp bách, đặt các nhà khoa học vào việc phải nghiên cứu đề tìm kiếm nội dung, đề xuất hình thức 6 tổ chức, phương pháp GDGT nhằm tránh được những sai lầm không đáng có, kết quả nghiên cứu ấy được thể hiện ngay trong cuốn sách “Tâm lý học thanh niên”, của tác giả I.Kon, nội dung cơ bản của cuốn sách đã khẳng định rất rõ vấn đề là: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính” [18, tr. Trong cuốn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, của tác giả Lê Văn Hồng (1997), đã có nội dung giới thiệu khá đầy đủ và sâu sắc về GDGT cho học sinh ở các nước như Đức, ở Mỹ, Anh và Nhật Bản, trong đó việc GDGT được tiến hành rộng rãi và bắt đầu ngay từ khi trẻ vào học cấp 1 cho đến các cấp học tiếp theo của chương trình giáo dục phổ thông, trong đó GDGT đã được các nhà giáo dục đề xuất đưa vào giảng dạy một cách đầy đủ và cụ thể, tỉ mỷ, phù hợp với đặc điểm của từng lứa tuổi học với 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sách tham khảo được qui định sử dụng để thực thi việc GDGT cho học sinh [dẫn qua 14].
Trong Cuốn sách “Giới tính tuổi hoa” [14] của tác giả J.Masơlôva, đã cho rằng: “Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào. Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng ta. Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác”, “Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội”. Trong cuốn sách “Tâm lý học giới tính và GDGT” [23], tác giả Bùi Ngọc Oánh đã dẫn ra quan điểm của X.Makarenko là: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên.
Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ gia nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của 7 con người và việc giáo dục con cái. Khi giáo dục một con người không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính”. Ông nói: “Các nhà giáo dục học Xô viết coi giáo dục giới tính và giáo dục về đời sống gia đình là một nội dung của giáo dục đạo đức chuẩn bị cho con người bước vào đời sống gia đình” và thanh niên cần “Phải học tập cách yêu đương, phải học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, và như thế có nghĩa là học tập để biết tự trọng, học tập để biết các vinh hạnh được làm người” [23, tr. Trong bài giảng về giới tính, tác giả X.Makarenko, cho rằng: “Chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao để các em có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cảm nghiêm túc và sâu nặng, để các em sẽ được hưởng khoái cảm của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuôn khổ gia đình” [23, tr.
Ở Việt Nam, cho đến tận những năm cuối của thập 80 (thế kỷ XX), vấn đề giới tính, GDGT cho học sinh, sinh viên, đặc biệt là giáo dục cho lứa tuổi vị thành niên chưa được coi trọng bởi các tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ từ những phong tục, tập quán lạc hậu đã tồn tại từ lâu vì cho đó là điều “cấm kị” không thể nói ra. Do vậy, nó trở nên “xấu hổ” với những ai dám nói, dám bàn đến giới tính, tình dục. Tuy nhiên, bước vào những năm 1990 trở lại đây, khi đất nước ta từng bước mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, nền giáo dục nước ta cũng bắt đầu thay đổi về những vấn đề giáo dục cho học sinh sinh viên, trong đó có giáo dục giới tính với một số dự án mang tính quốc gia được triển khai thực hiện, trong đó, có một số đề tài nghiên cứu nội dung về giới tính và những vấn đề có liên quan đến GDGT (Giáo dục sức khỏe sinh sản; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình; GDGT cho học sinh…), được các tổ chức quốc tế hoặc các nước tham gia triển khai nghiên cứu. Việc triển khai nghiên cứu một cách cụ thể giới tính và GDGT cho học sinh, sinh viên ở lứa tuổi vị thành niên đã nhận được sự quan tâm của Nhà nước, của Bộ GD&ĐT và Bộ Y tế, cũng như của các nhà khoa học và các bậc 8 PHHS.
Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, muốn đạt được kết quả khi thực hiện HĐGDGT cho học sinh thì cần phải: “Thực hiện một cách khoa học hợp lý, có phương pháp và hình thức giảng dạy thích hợp. Hoạt động giáo dục này cũng phải được tiến hành bởi những người có chuyên môn, có trình độ, được đào tạo một cách chu đáo và hệ thống, giống như việc giáo dục, giảng dạy những bộ môn khoa học khác trong nhà trường” [23, tr. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về GDGT, như tác giả Vũ Thị Thường viết cuốn sách “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên” [29]. Với việc triển khai nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh khác nhau, tác giả thu được sản phẩm nghiên cứu về mặt lý luận để làm cơ sở đánh giá làm roc các vấn đề đạt được, hạn chế trong GDGT cho trẻ vị thành niên thông qua việc phân tích tường minh, rõ ràng, từ đó đề xuất một số giải pháp để GDGT nâng cao hiểu biết, hình thành kỹ xảo, kỹ năng cho trẻ vị thành niên, từ đó giúp các em tự chăm sóc bản thân, bảo vệ sức khoẻ sinh sản một cách tốt nhất và có ý thức tôn trọng, cũng như có trách nhiệm hơn khi tham gia giao lưu, giao tiếp với những bạn bè và những người khác giới.
Cuốn sách “Giáo dục giới tính cho học sinh THCS” [4], của nhóm tác giả Lục Trác Bình, Ngô Vĩnh Cường. Nội dung cuốn sách đã chỉ ra những kiến thức về tâm sinh lý của trẻ vị thành niên một cách cơ bản, khá đầy đủ; làm rõ được những biến đổi khác biệt của trẻ trong độ tuổi mới lớn, đưa ra những tình huống ứng xử tiêu biểu giúp trẻ biết tự bảo vệ mình cũng như nắm được quan niệm đúng đắn về giới tính, từ đó phát triển đạo đức tốt. Cuốn sách GDGT cho học sinh THCS của nhóm tác giả đã thực sự là giáo cụ hữu ích cho quý thầy cô và quý phụ huynh trong việc giáo dục giới tính con trẻ. Tác giả Đào Xuân Dũng, với cuốn sách “Giáo dục giới tính dành cho tuổi vị thành niên” [6].
Cuốn sách giới thiệu cho các nhà quản lý, thiết kế chương trình giáo dục một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn trong sự nghiệp giáo dục thanh thiếu niên; Giúp các bậc cha mẹ hiểu rõ hơn về GDGT, một vấn đề trước hết 9 thuộc về trách nhiệm của gia đình vì thế mạnh của gia đình được thể hiện trong việc xây dựng mô hình bình đẳng, tôn trọng và có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên khác giới trong gia đình; Cuốn sách cũng giúp cho giáo viên nâng cao kỹ năng giảng dạy về giới tính để giúp các em học sinh tìm thấy ở thầy cô giáo một người tư vấn, người bạn chân thành và đáng tin cậy mỗi khi các em gặp khó khăn trong ứng xử xã hội, trong tình bạn và tình yêu. Đặc biệt hơn nữa là giúp cho các em học sinh khi ở tuổi dậy thì tránh được những sai lầm của lứa tuổi, tiếp thụ được những mục tiêu mà môn học GDGT đã đề ra. Tác giả Thái Phương Linh với bài “Nhận thức của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Tô Vĩnh Diện (Hà Nội) về GDGT” [20]. Trong bài viết, tác giả đã giới thiệu, làm rõ tình hình hiểu biết của học sinh lớp 5 trường tiểu học Tô Vĩnh Diện về GDGT, kết quả khảo sát của tác giả đã cho thấy phần đông học sinh lớp 5 đã có kiến thức và mối quan tâm về GDGT, song cũng còn một phần nhỏ học sinh vẫn còn thiếu hiểu biết.