Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giáo dục giới tính Tuổi thiếu niên là tuổi có nhiều biến đổi mạnh mẽ cả về thể chất và tinh thần. Ở độ tuổi này, đứng trước những biến đổi cả về thể chất và tinh thần, nếu không có sự chuẩn bị, định hướng trước, sự thiếu hiểu biết sẽ khiến các em rất dễ rơi vào tình trạng hoang mang, lo sợ, xấu hổ, che giấu những biến đổi của cơ thể, của tâm sinh lý.
Nhiều em không có kiến thức, không được sự quan tâm của người thân, gia đình và nhà trường về GDGT thậm chí còn có những hành động sai lầm gây ảnh hưởng nặng nề cả về thể chất và tâm sinh lý. Vì vậy, gia đình và nhà trường có nhiệm vụ dạy cho các em hiểu biết về những kiến thức GT và GDGT theo hướng bình đẳng giới. Cũng đã có một bộ phận phụ huynh có tư tưởng tiến bộ, chủ động trong công tác GDGT cho con, chuẩn bị cho con sẵn sàng bước vào giai đoạn dậy thì. Tuy nhiên, phần lớn phụ huynh còn thiếu hiểu biết, còn tâm lý e ngại trong GDGT cho con cái, còn né tránh khi được con hỏi đến các vấn đề nhạy cảm như tình dục, tình yêu,.Một số phụ huynh có kiến thức về GDGT những lại chưa có PP phù hợp tiếp cận với con mình, đặc biệt khi con cái có biểu hiện có tình cảm với bạn bè khác giới, nhiều phụ huynh còn phản ứng gay gắt dẫn đến những biểu hiện tiêu cực từ phía các em [3,5].
Mặt khác trong các trường phổ thông hiện nay GDGT chưa được xem là một môn học, chưa có nội dung chương trình GD cụ thể mà chỉ được lồng ghép vào một số môn học và hoạt động GD như: GD công dân, HĐTN, Sinh học, GD kỹ năng sống, sinh hoạt tập thể. Nội dung GDGT trong SGK có rất ít và chưa có tính hệ thống. Các lí do nêu trên là nguyên dẫn đến HS thiếu hiểu biết về GT, GDGT, bình đẳng giới. Do thiếu hiểu biết gây ra không ít hệ quả đáng tiếc 6 Do đó GDGT cho HS theo hướng bình đẳng giới trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Công tác GDGT theo hướng bình đẳng giới không còn hạn chế bởi quốc gia nào mà đã trở thành vấn đề cần quan tâm trên phạm vi toàn cầu. GDGT là vấn đề đã được các quốc gia phát triển quan tâm và đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường từ khá sớm. Ở châu Á, Trung Quốc và Nhật Bản là những quốc gia đi trước trong việc tiếp cận với vấn đề GDGT. Mặc dù là một quốc gia phương Đông với những tư tưởng khá thận trọng trong GDGT nhưng Trung Quốc cũng đã sớm quan tâm và đưa nội dung GDGT vào giảng dạy ở bậc học tương ứng với cấp 2 ở Việt Nam.
Tuy nhiên, đội ngũ GV vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện hoạt động này, không biết làm thế nào để tránh được tư tưởng của xã hội là “vẽ đường cho hươu chạy” [3,5]. GDGT được thực hiện ngay từ những năm đầu tiên của nhà trường phổ thông ở Mỹ. HS được trang bị những kiến thức về cấu tạo của cơ thể, cơ quan sinh sản “cơ quan GT” ngay từ cấp 1. Đến đầu cấp 2, các em đã có những hiểu biết về “tình dục an toàn”.
HS được chuẩn bị kỹ càng cho những biến đổi của cơ thể, của tâm sinh lý trước khi bước vào giai đoạn dậy thì. Tại Phần Lan, GDGT thường được tích hợp vào nhiều bài học bắt buộc, chủ yếu như một phần của các bài giảng về sinh học (ở các lớp thấp) và sau đó trong các bài giảng liên quan tới các vấn đề sức khoẻ nói chung. Bên cạnh đó, GDGT cho trẻ em cũng được đưa vào giảng dạy ở Phần Lan từ rất sớm. Các vấn đề về chuyển đổi GT, lưỡng tính, đồng tính thậm chí còn được đưa vào các nội dung GD ngay từ bậc tiểu học [3,5].
Ở Đông Nam Á, Malaysia là một trong những quốc gia đi đầu trong GDGT cho HS. Trẻ em sẽ được GDGT từ khi lên 4. Chương trình GD với các bộ sách cụ thể sẽ do các bộ ngành có liên quan kết hợp với chính phủ biên soạn. Thậm chí, việc GDGT cũng trở thành một môn học chính thức ở các trường học ở Malaysia trong vòng 2 năm tới.
Chương trình học này bên cạnh 7 GD trẻ những kiến thức sinh sản cần thiết thì còn GD các HS sự phát triển của con người, cuộc sống hôn nhân và gia đình, kỹ năng giao tiếp cũng như cách “quan hệ tình dục an toàn” [3,5]. Như vậy, GDGT và GDGT theo hướng bình đẳng giới không phải là vấn đề quá mới mẻ mà đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào trường học, đặc biệt là ở các nước phương Tây với tư tưởng cởi mở về vấn đề này. Ở một số quốc gia châu Á, GDGT cũng đã bước đầu được tiếp cận song còn e dè và chịu sự tác động từ nhiều phía như cha mẹ HS hay dư luận xã hội [3,5]. Việt Nam là một quốc gia phương Đông, chịu ảnh hưởng nặng nề với những tư tưởng phong kiến như “nam nữ thụ thụ bất thân”.
Vì vậy, các vấn đề như GT và tình dục gần như là những vùng cấm trong GD, hầu như không được đề cập đến. Phải đến năm 1984, khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ GD, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho HS những kiến thức khoa học về GT, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” thì GDGT mới bắt đầu được đưa vào thực hiện cho đối tượng là sinh viên đại học. Sau khi những quan điểm của Nhà nước được thống nhất, các nhà GD cũng mới bắt đầu đi sâu nghiên cứu về tình yêu, hôn nhân, GT. Có thể kể đến một số nghiên cứu như: “Vấn đề GD đời sống gia đình và GT cho thế hệ trẻ” của tác giả Trần Trọng Thủy (1989) [17]; “Giáo dục giới tính” của tác giả Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Văn Lê (1997) [3]; “Giáo dục giới tính” của tác giả Nguyễn Hữu Dũng (1998) [5]; “Giáo dục giới tính cho con” của tác giả Nguyễn Thanh Bình (2001) [1]; “Tâm lí học giới tính và Giáo dục giới tính” của tác giả Bùi Ngọc Oánh (2006) [16]; “Chăm sóc sức khỏe tuổi học trò” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2007) [6], “GDGT dành cho tuổi vị thành niên” của tác giả Đào Xuân Dũng (2012) [4].
Các công trình nghiên cứu mang tính cá nhân của các tác giả kể trên cùng với một số dự án nghiên cứu mang tầm quốc gia, quốc 8 tế như nghiên cứu “Điều tra quan niệm về tình yêu, tình dục trong và ngoài hôn nhân, đời sống gia đình, KHHGĐ, GDGT. giai đoạn 1988 -1991” của Viện khoa học GD, “Vị thành niên và biện pháp tránh thai” của Viện Nghiên cứu thanh niên,. Đã cung cấp những hệ thống kiến thức tương đối toàn diện, đầy đủ về vấn đề GDGT cả về lý luận và thực tiễn. Đây là những nguồn tài liệu quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tuy nhiên, GDGT có đặc điểm là phải có sự cập nhật theo sự vận động, biến đổi của xã hội, của sự phát triển tâm sinh lý trẻ. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau với điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, ở mỗi địa phương, dân tộc khác nhau lại có những đặc điểm nhận thức, hành vi về vấn đề GT khác nhau, Vì vậy, các nhà QL cần có các biện pháp tác động phù hợp theo từng không gian và thời gian cụ thể. Hiện nay, GDGT đã được đưa vào giảng dạy ở các trường THCS thành phố ĐBP, tỉnh ĐB theo hướng bình đẳng giới. Song còn thiếu vắng các nghiên cứu về hoạt động này phù hợp với thực tế đặc điểm HS và thực trạng các trường THCS tại địa bàn thành phố ĐBP, tỉnh ĐB.
Vì vậy, hướng nghiên cứu về các biện pháp QL GDGT cho HS ở các trường THCS Thành phố ĐBP, tỉnh ĐB theo hướng bình đẳng giới nhằm đề xuất những biện pháp QL phù hợp trong bối cảnh đổi mới GD nói chung và GDGT theo hướng bình đẳng giới nói riêng hiện nay là hướng nghiên cứu phù hợp và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục giới tính theo hướng bình đẳng giới GDGT và QL GDGT là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều lực lượng trong xã hội, từ các cơ quan QL nhà nước về GD, các nhà nghiên cứu, CBQL, nhà giáo ở các nhà trường và cả cha mẹ HS. Trong đó, nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề QL GDGT làm đề tài tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, như: “Thực trạng việc QL GDGT cho HS ở các trường THCS tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” (Luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Hà Thế Bình, năm 2007); “Thực trạng QL hoạt động GDGT tại các trường THCS thuộc quận 4 thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn thạc sỹ của tác giả Cao Thị Tuyết 9 Mai, năm 2010); “Thực trạng thái độ đối với vấn đề GDGT của HS trường THCS Xuân Yên, huyên Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (Luận văn của tác giả Lê Thị Liên, năm 2013); “GDGT cho trẻ em ở lứa tuổi 6-10 tuổi trong các gia đình ở thành phố Vinh- tỉnh Nghệ An” (Luận văn tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Diệu Thương, năm 2017); “Biện pháp nâng cao chất lượng QL hoạt động GDGT cho HS THCS ở các trường phổ thông tư thục trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” của tác giả Nguyễn Thị Trân Anh, Đoàn Thị Hồng Lan; “QL hoạt động GDGT cho trẻ mẫu giáo ở trường mần non công lập” của tác giả Phạm Thị Mỹ Tuyền [26]. Các nghiên cứu về QL GDGT theo hướng bình đẳng giới tiếp cận các vấn đề về QL ở các phạm vi, quy mô khác nhau, trong đó tập trung vào vai trò QL của các cơ quan QL GD và của nhà trường đối với hoạt động QL GDGT cho HS.
Việc GDGT đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tất cả các HS, bao gồm cả nam và nữ, được hưởng một môi trường GD bình đẳng và công bằng [19].