Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số: 9 22 90 06) với đề tài "Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội, kéo theo những biến đổi phức tạp trong đạo đức học đường. Tác giả luận án chỉ ra rằng một bộ phận giới trẻ hiện nay có biểu hiện chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, suy giảm các chuẩn mực đạo đức nền tảng. Thực trạng tiêu cực trong học sinh phổ thông xuất hiện với mức độ nghiêm trọng gia tăng: hiện tượng nói tục, chửi thề, quay cóp, xé bài kiểm tra, bạo lực học đường, chia băng phái, tệ nạn ma túy và vi phạm pháp luật.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, các báo cáo công tác Đội và phong trào thiếu nhi giai đoạn 2010–2015 cùng báo cáo tổng kết năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2012–2015 cho thấy tinh thần hiếu thảo, tính khiêm tốn, lòng nhân ái, ý thức kỷ luật của học sinh trung học cơ sở có biểu hiện suy giảm. Dù đã có nhiều công trình thuộc các chuyên ngành xã hội học, tâm lý học, giáo dục học tiếp cận vấn đề này, song các nghiên cứu ở cấp độ triết học nhằm nhìn nhận vấn đề một cách bao quát, chỉnh thể và xác lập định hướng mang tính quy luật vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở, tiến hành phân tích thực trạng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho đối tượng này tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số như sau:
- Một là: Khảo sát, đánh giá những tài liệu chủ yếu liên quan đến đề tài, từ đó xác định những vấn đề sẽ được nghiên cứu trong luận án.
- Hai là: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở: làm rõ các khái niệm "đạo đức", "giáo dục đạo đức", "giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở"; xác định nội dung, các hình thức và những nhân tố tác động đến giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ba là: Phân tích sự cần thiết phải giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh; khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích, đánh giá và làm rõ nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
- Bốn là: Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi không gian: Điều tra, khảo sát thực tế tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn Quận 1, Quận 3, quận Gò Vấp, quận Tân Phú, huyện Củ Chi và huyện Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2011 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước theo ba nhóm nội dung chính:
1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về đạo đức và giáo dục đạo đức
- Giáo trình và chuyên khảo đạo đức học: Trần Hậu Kiêm với Đạo đức học và Các dạng đạo đức xã hội đã phân tích bản chất, đặc trưng của đạo đức qua các hình thái kinh tế - xã hội (nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và xã hội chủ nghĩa); Nguyễn Văn Phúc với Đạo đức học: những nội dung cơ bản; Phạm Khắc Trương với Đạo đức học; Trần Đăng Sinh (chủ biên) với Giáo trình Đạo đức học. Các tác phẩm này xác lập quan điểm duy vật lịch sử: đạo đức là hình thái ý thức xã hội bắt nguồn từ lao động sản xuất, là phương thức điều chỉnh hành vi mang tính tự giác và tự nguyện.
- Công trình về vai trò giáo dục đạo đức: Nghiêm Sỹ Liêm với Vai trò của giáo dục đạo đức trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay; Phạm Tất Dong với đề tài cải tiến giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh - sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân; Đề án giai đoạn 2013–2020 của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên; Trần Minh Đoan với luận án nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu về các chủ thể giáo dục: Nghiêm Sỹ Liêm, Nguyễn Thị Tố Quyên (nghiên cứu về vai trò gia đình giáo dục đạo đức cho học sinh THCS tại Hà Nội), Nguyễn Đức Mạnh (vai trò gia đình với trẻ em hư); Đỗ Tuyết Bảo, Trần Văn Thắng và Nguyễn Thị Thu Hoài (tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong môn Giáo dục công dân THCS), cùng kỷ yếu hội thảo khoa học của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh (2007) và Thông báo 314/TB-BGDĐT (2014) của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.
2. Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục đạo đức
- Luận án của Đỗ Tuyết Bảo (1996) nghiên cứu tác động hai mặt của kinh tế thị trường tới đạo đức học sinh THCS, chỉ ra nguyên nhân hạn chế do phương pháp giáo dục cũ nặng về truyền đạt nguyên lý sáo mòn, khô khan.
- Luận án của Trần Minh Đoan đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu rõ hạn chế trong việc cụ thể hóa các chuẩn mực cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Đề tài cấp nhà nước mã số KHXH-04 do Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng, Lưu Thu Thủy thực hiện về thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên.
- Bài phỏng vấn TS. Huỳnh Công Minh (nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh) trên báo Giáo dục và Thời đại nhấn mạnh việc chuyển từ lý thuyết hàn lâm sang tăng cường trải nghiệm, tương tác và xử lý tình huống.
- Hội thảo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh (2007) tổng kết thực trạng và chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân suy thoái đạo đức: kinh tế phát triển và bùng nổ internet/web đen; luật pháp chưa đủ nghiêm minh; các hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội và bệnh thành tích trong nhà trường; chương trình Giáo dục công dân còn nặng tính lý thuyết trừu tượng, thiếu kỹ năng sống.
3. Nhóm công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
- Phạm Côn Sơn và Tô Quốc Tuấn (Giáo dục đạo đức cho trẻ hư) đề xuất giải pháp nêu gương trong gia đình và phối hợp ba môi trường giáo dục.
- Lê Thị Hoài Thanh giải quyết quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức thanh niên.
- Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia mã số QG.08 do Trương Văn Phước chủ nhiệm nghiên cứu sự biến đổi thang giá trị đạo đức của sinh viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây hoặc đã thực hiện từ lâu (như luận án năm 1996), hoặc nghiên cứu diện rộng ở cấp quốc gia, hoặc chỉ dừng lại ở góc độ bài viết báo chí, hội thảo chuyên môn hẹp. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt dưới lăng kính triết học về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới (2011–2016), nhằm gắn kết chỉnh thể các thành tố lý luận với điều kiện đặc thù của đô thị này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Khái niệm đạo đức: Đạo đức bắt nguồn từ gốc Latin mos (moris, moralis - lề thói, đạo nghĩa) và Hy Lạp Êthicos (tập tục). Dưới góc độ triết học Mác - Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, sức mạnh truyền thống và dư luận xã hội.
- Ba phương diện bản chất của đạo đức:
- Là hình thái ý thức xã hội đặc thù: Thuộc kiến trúc thượng tầng, do tồn tại xã hội và phương thức sản xuất vật chất quy định.
- Là phương thức điều chỉnh hành vi con người: Điều chỉnh bằng các quan niệm thiện - ác, vinh - nhục, mang tính tự nguyện và là sự lựa chọn tự do của cá nhân.
- Là một hệ thống các giá trị: Mang tính phân cực (thiện đối lập ác), mang tính lịch sử cụ thể và gắn với lợi ích cộng đồng, giai cấp.
- Cấu trúc của đạo đức: Gồm ý thức đạo đức (cảm xúc, tình cảm đạo đức ở cấp độ cảm tính; tri thức, chuẩn mực, lý tưởng đạo đức ở cấp độ lý tính) thống nhất biện chứng với thực tiễn đạo đức, quan hệ đạo đức; phân chia theo cấp độ gồm đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.
- Các thành tố cấu thành quá trình giáo dục đạo đức:
- Chủ thể giáo dục: Gia đình, nhà trường, các thiết chế xã hội và chủ thể tự giáo dục (đối tượng tự chuyển hóa văn hóa đạo đức xã hội thành văn hóa cá nhân).
- Mục tiêu giáo dục: Hình thành và phát triển nhân cách đạo đức toàn diện.
- Nội dung giáo dục: Hệ thống các chuẩn mực, yêu cầu đạo đức xã hội, cụ thể hóa 5 điều Bác Hồ dạy.
- Hình thức và phương pháp giáo dục: Giảng dạy môn học chuyên trách (Đạo đức, Giáo dục công dân), lồng ghép liên môn, hoạt động ngoại khóa, nêu gương, lấy người học làm trung tâm.
- Đối tượng giáo dục: Học sinh trung học cơ sở với những đặc thù tâm sinh lý lứa tuổi.
- Điều kiện vật chất, kinh phí: Cơ sở trường lớp, thiết bị dạy học, tài chính cho các hoạt động trải nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lý thuyết: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, quy nạp và diễn dịch, so sánh, khái quát hóa.
- Phương pháp xã hội học thực nghiệm: Quan sát thực địa, điều tra bằng phiếu hỏi (bảng hỏi), phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng gồm giáo viên, phụ huynh học sinh, cán bộ quản lý giáo dục, chuyên gia. Quá trình phỏng vấn kết hợp quan điểm emic (tiếp cận từ bên trong, người trong cuộc) và etic (tiếp cận từ bên ngoài, người quan sát khách quan).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Luận án sử dụng các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; số liệu thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương; số liệu từ Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh; cùng dữ liệu điều tra thực tế tại 6 quận, huyện trên địa bàn thành phố từ năm 2011 đến năm 2016.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết (ngoài phần mở đầu, danh mục công trình, tài liệu tham khảo và phụ lục).
Bảng tổng hợp số liệu thực trạng xã hội và học đường ghi nhận trong văn bản
| Chỉ tiêu / Sự kiện khảo sát |
Nguồn dữ liệu / Cơ quan thống kê |
Số liệu / Tỷ lệ ghi nhận trong văn bản |
| Quan điểm coi sống thử là bình thường |
Điều tra 30 trường ĐH, CĐ và phổ thông (2010) |
51,4% (Sinh viên); 21,2% (Học sinh phổ thông) |
| Tỷ lệ sống thử, quan hệ tình dục lứa tuổi THCS |
Khảo sát liên bộ GD&ĐT và Ban TT-VH TW (2010) |
18,9% học sinh trung học cơ sở |
| Người chưa thành niên phạm tội trên toàn quốc |
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (1986 và 1996) |
3.607 trường hợp (1986); 11.000 trường hợp (1996) |
| Bình quân số người chưa thành niên phạm tội / năm |
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao |
4.746 trường hợp / năm |
| Học sinh, sinh viên nghiện ma túy cả nước |
Thống kê cai nghiện bắt buộc (2004, 2007, 2010) |
600 em (2004); 1.237 em (2007); 3.209 em (2010) |
| Tội phạm hình sự vị thành niên tại TP.HCM |
Công an TP. Hồ Chí Minh (giai đoạn 2007–2012) |
Hơn 49.000 vụ, gần 76.000 đối tượng |
| Tỷ lệ vị thành niên phạm tội từ lần 2 trở lên |
Công an TP. Hồ Chí Minh (giai đoạn 2007–2012) |
44,8% tổng số đối tượng |
| Mô hình xóa đói giảm nghèo điểm |
Ấp Cây Sộp, xã Tân An Hội, Củ Chi (từ năm 1992) |
10 hộ dân nghèo mượn vốn làm ăn |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các tài liệu khoa học theo 4 nhóm vấn đề: lý luận về đạo đức và giáo dục đạo đức; thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS; các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục; và đánh giá tổng quát khoảng trống nghiên cứu.
Tác giả luận chứng rằng các công trình hiện có đã làm rõ bản chất xã hội của đạo đức, các thành tố của giáo dục đạo đức, nhưng việc đánh giá thực trạng hoạt động của từng chủ thể tại địa bàn đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh chưa được thực hiện đầy đủ. Luận án khẳng định sự cần thiết phải phân tích thực trạng dựa trên các báo cáo thường niên, kết hợp dữ liệu xã hội học tại chỗ giai đoạn 2011–2016 dưới góc nhìn triết học ứng dụng.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương này làm rõ các khái niệm nền tảng, cấu trúc, vai trò của đạo đức và các nội dung giáo dục đạo đức đặc thù cho học sinh THCS tại Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên 5 điều Bác Hồ dạy:
- Giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào và tinh thần tự hào dân tộc: Yêu nước trong điều kiện mới là nỗ lực học tập, lao động sáng tạo, tu dưỡng đạo đức. Đặc biệt, luận án phân tích phạm trù "nghĩa tình" như một giá trị đặc trưng, "đặc sản" văn hóa nhân văn của người dân Thành phố Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ phong trào xóa đói giảm nghèo tại ấp Cây Sộp (xã Tân An Hội, Củ Chi năm 1992) và lan tỏa qua các hoạt động cứu trợ bão lũ, nhà tình nghĩa, quán cơm từ thiện, thùng nước miễn phí, quầy quần áo 0 đồng.
- Giáo dục tinh thần hăng say học tập và tình yêu lao động: Xuất phát từ quan điểm Mác-xít về vai trò của lao động đối với sự tồn tại và phát triển xã hội; cụ thể hóa khẩu hiệu "Học tập tốt, lao động tốt", rèn luyện học đi đôi với hành, tham gia việc nhà và lao động tự phục vụ, giữ gìn vệ sinh trường lớp.
- Giáo dục tinh thần đoàn kết, ý thức kỷ luật và tính nghĩa hiệp, hào sảng, nhân hậu: Giáo dục tinh thần tương thân tương ái, chấp hành nghiêm nội quy, nền nếp, luật giao thông; đồng thời phát huy tính cách nghĩa hiệp, hào sảng, bộc trực, sẵn sàng giúp đỡ người yếu thế của cư dân đô thị phía Nam.
- Phương thức và nhân tố tác động: Phân tích sự phối hợp giữa 3 môi trường giáo dục (Gia đình - Nhà trường - Xã hội), vai trò của môn Đạo đức/Giáo dục công dân, hoạt động Đội Thiếu niên tiền phong, cùng các điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí.
Chương 3: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực tế tại Quận 1, Quận 3, Gò Vấp, Tân Phú, Củ Chi, Cần Giờ giai đoạn 2011–2016:
- Thành tựu và nguyên nhân: Đa số học sinh giữ vững nền nếp, kính trọng thầy cô, có tinh thần tương thân tương ái, tham gia tích cực các phong trào tình nguyện của thành phố. Nhà trường đã bước đầu đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường tính tương tác, trải nghiệm thực tế.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Biểu hiện hạn chế: Sự gia tăng các vụ bạo lực học đường (dẫn chứng vụ 3 nữ sinh THCS Hoàng Văn Thụ - Quận 10 đánh bạn quay clip; nhóm học sinh THCS Ngô Quốc Chí - Quận Thủ Đức tống tiền bạn học suốt 3 năm; vụ việc nữ sinh tại trường Long Thới phản ánh cô giáo không giảng bài suốt 3 tháng nhưng bị cô lập phải chuyển trường); tình trạng vô cảm, vi phạm luật giao thông, tỷ lệ học sinh sống thử và vi phạm pháp luật vị thành niên còn cao.
- Nguyên nhân: Tác động mặt trái của kinh tế thị trường; sự xâm nhập của thông tin độc hại từ internet/web đen; sự thiếu gương mẫu của người lớn ngoài xã hội; bệnh thành tích trong giáo dục; chương trình Giáo dục công dân còn nặng lý thuyết hàn lâm, thiếu kỹ năng thực tế; sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội còn hình thức, rời rạc.
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm 3 nhóm chính:
- Nhóm giải pháp về nhận thức, vai trò và trách nhiệm của các chủ thể: Nâng cao năng lực giáo dục của phụ huynh; xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và giáo viên Giáo dục công dân mẫu mực; tăng cường chỉ đạo của Ban Giám hiệu; phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Đội và các thiết chế văn hóa - xã hội; kích hoạt khả năng tự giáo dục, tự tu dưỡng của học sinh.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung và đổi mới phương pháp: Giảm bớt lý thuyết hàn lâm trừu tượng, tăng cường giáo dục kỹ năng sống, bài học tình huống thực tế; tích hợp các phẩm chất đạo đức truyền thống với giá trị "nghĩa tình, hào sảng, nghĩa hiệp" của Thành phố Hồ Chí Minh; đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng thực chất, động viên kịp thời.
- Nhóm giải pháp về điều kiện vật chất và môi trường văn hóa: Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động ngoại khóa, thể thao, văn nghệ; xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh, ngăn chặn tệ nạn xã hội và kiểm soát chặt chẽ thông tin độc hại từ không gian mạng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm sáng tỏ thêm nội hàm khái niệm đạo đức, giáo dục đạo đức và bản chất của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở dưới góc độ triết học Mác - Lênin.
- Phân tích và xác định hệ thống các chuẩn mực đạo đức cần giáo dục cho học sinh THCS tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó gắn kết các nội dung cốt lõi của 5 điều Bác Hồ dạy với các giá trị văn hóa tinh thần đặc thù của địa phương như phẩm chất "nghĩa tình", "nghĩa hiệp, hào sảng, nhân hậu".
- Luận giải mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố của quá trình giáo dục đạo đức (chủ thể, mục tiêu, nội dung, phương pháp, đối tượng, điều kiện vật chất) trong bối cảnh đô thị hóa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khảo sát, đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh THCS tại 6 quận, huyện tiêu biểu đại diện cho khu vực nội thành, vùng ven và ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011–2016.
- Làm rõ nguyên nhân sâu xa của các thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức học đường, kết hợp dữ liệu thống kê chính thống với khảo sát xã hội học thực nghiệm.
- Đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cụ thể cho ngành giáo dục, các cấp chính quyền và các đoàn thể tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục đổi mới chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công dân theo hướng tinh giản lý thuyết hàn lâm, tăng thực hành, trải nghiệm.
- Kiến nghị Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường đầu tư thiết chế văn hóa phục vụ thiếu nhi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án mới tập trung tại 6 quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian từ năm 2011 đến năm 2016; chưa bao quát toàn bộ 24 quận, huyện của thành phố tại thời điểm nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điều tra khảo sát trên diện rộng toàn thành phố và các đô thị lớn lân cận; theo dõi biến động đạo đức học đường trong các giai đoạn phát triển tiếp theo; nghiên cứu sâu hơn về phương pháp giáo dục đạo đức thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và mạng xã hội bùng nổ mạnh mẽ.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Triết học, Đạo đức học, Giáo dục học, Xã hội học trong việc nghiên cứu lý luận hình thái ý thức xã hội và phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp triết học với xã hội học thực nghiệm.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và gợi ý phương pháp tổ chức giáo dục đạo đức, sinh hoạt Đội, công tác chủ nhiệm lớp và phương pháp giảng dạy tích hợp cho giáo viên môn Giáo dục công dân tại các trường THCS.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách xã hội: Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng các chương trình hành động thanh thiếu nhi, củng cố môi trường văn hóa đô thị và phát huy giá trị văn hóa "nghĩa tình" đặc trưng của Thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án thuộc chuyên ngành nào và bảo vệ ở đâu?
Luận án thuộc chuyên ngành Triết học (mã số: 9 22 90 06), được thực hiện và bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2018 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc.
2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được khảo sát ở những địa bàn nào và trong thời gian nào?
Dữ liệu được khảo sát tại một số trường trung học cơ sở thuộc 6 quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Quận 1, Quận 3, quận Gò Vấp, quận Tân Phú, huyện Củ Chi và huyện Cần Giờ, trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2011 đến năm 2016.
3. Số liệu thống kê nào trong văn bản phản ánh mức độ nghiêm trọng của thực trạng đạo đức vị thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Số liệu của các lực lượng công an giai đoạn 2007–2012 cho thấy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã điều tra hơn 49.000 vụ phạm pháp hình sự với gần 76.000 đối tượng người chưa thành niên phạm pháp; đặc biệt, số vụ án do người chưa thành niên phạm tội lần hai trở lên chiếm tỷ lệ cao (44,8%).
4. Luận án đưa nội dung đặc thù nào của địa phương vào khung giáo dục đạo đức học sinh THCS tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Luận án đưa phạm trù "nghĩa tình" và phẩm chất "nghĩa hiệp, hào sảng, nhân hậu" vào nội dung giáo dục. Đây là nét đặc trưng văn hóa gắn liền với phong trào xóa đói giảm nghèo khởi xướng từ năm 1992 tại ấp Cây Sộp (xã Tân An Hội, huyện Củ Chi), các hoạt động cứu trợ bão lũ, nhà tình thương, quán cơm từ thiện và các quầy hàng miễn phí tại Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Kết cấu của luận án gồm bao nhiêu chương và tiết?
Ngoài phần mở đầu, danh mục công trình của tác giả, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu gồm 4 chương và 14 tiết.
Kết luận
Luận án "Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" là công trình nghiên cứu chuyên ngành Triết học tiếp cận vấn đề giáo dục đạo đức học đường một cách có hệ thống và thực chứng. Tác giả đã kết hợp phương pháp luận duy vật lịch sử với các kỹ thuật điều tra xã hội học để đánh giá thực trạng đạo đức học sinh THCS tại 6 quận, huyện trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011–2016. Công trình làm sáng tỏ các thành tố lý luận, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại trong giáo dục đạo đức và đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với đặc trưng văn hóa nghĩa tình của Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy, quản lý giáo dục và hoạch định chính sách phát triển con người trong giai đoạn mới.