Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bảo lĩnh là một trong sáu BPNC được pháp luật TTHS Việt Nam quy định. Do đó, muốn hiểu rõ bản chất pháp lý của biện pháp bảo lĩnh cần phải nghiên cứu biện pháp này trong mối liên hệ có tính hệ thống với các BPNC. Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp cưỡng chế của Luật TTHS là những biện pháp được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng nhất định áp dụng theo một trình tự, thủ tục được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử [35; 54].
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS, BPNC được xem như một chế định pháp lý quan trọng, bởi việc áp dụng các BPNC có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cá nhân người bị áp dụng, nhất là quyền nhân thân và quyền tự do cá nhân. Các BPNC không ngoài mục đích nào khác là tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan THTT xác định sự thật khách quan của vụ án, phòng ngừa và kịp thời ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện. Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm BPNC, cần được làm sáng tỏ; Theo Điều 79 BLTTHS Việt Nam 2003, mặc dù không đưa ra một khái niệm cụ thể về BPNC, tuy nhiên cũng đã quy định một số nội dung trọng điểm áp dụng các BPNC: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những BPNC sau đây: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [34]. Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn” [9].
Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [53]. Nhìn chung, các quan điểm khoa học trên đã chỉ ra những yếu tố cần có của một BPNC đó là: xác định thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng, mục đích áp dụng, được quy định trong BLTTHS. Các BPNC là quy phạm có tính chất lựa chọn, không phải tất cả các đối tượng đều bị áp dụng BPNC mà chỉ trong những trường hợp pháp luật quy định. BPNC thể hiện sự tác động từ phía cơ quan THTT đối với bị can, bị cáo, người bị kết án, đối với người chưa bị khởi tố trong trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quả tang.
Cần phải hiểu rõ các BPNC không có tính chất trừng phạt, mà chỉ là phương tiện đảm bảo cho việc làm rõ trách nhiệm hình sự và trong thực tế hoàn toàn có khả năng một người phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không bị áp dụng BPNC. Do đó, khái niệm BPNC cần mang tính khoa học, logic, phân định rõ ràng về thẩm quyền áp dụng, căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng và mục đích áp dụng: Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, ngăn chặn việc bị can, bị cáo cản trở, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án cũng như ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội. Qua những phân tích trên cho thấy, so với biện pháp cưỡng chế TTHS thì BPNC có nội dung và phạm vi hẹp hơn. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan THTT được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế.
Ngoài BPNC, biện pháp cưỡng chế còn có các biện pháp thu thập chứng cứ (khám xét người, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể…) và các biện pháp bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án (kê biên tài sản, áp giải các bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng. Những nhóm biện pháp này cùng song song tồn tại và hỗ trợ lẫn nhau, đều phải giải quyết những nhiệm vụ khác nhau. Đối tượng áp dụng của biện pháp cưỡng chế rộng hơn BPNC, đó là người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, bị can, bị cáo, người làm chứng,… So với các biện pháp cưỡng chế khác trong TTHS thì BPNC có tính nghiêm khắc hơn, nên các cơ quan THTT cũng cần cân nhắc thận trọng khi áp dụng, tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của công dân. Mục đích áp dụng của BPNC là kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm tội, bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật và tạo điều kiện để các cơ quan THTT giải quyết vụ án như không để người phạm tội tiêu hủy chứng cứ, xóa dấu vết, không để người phạm tội và người làm chứng thông cung.
Mục đích của biện pháp cưỡng chế bao quát hơn đó là ngoài những mục đích trên biện pháp cưỡng chế còn có mục đích răn đe, đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền được thuận lợi để tìm ra chứng cứ xác thực, kịp thời góp phần cho việc chứng minh vụ án đạt kết quả tốt, đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử diễn ra thuận lợi. Khái niệm biện pháp bảo lĩnh trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp bảo lĩnh đã được quy định từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh khái niệm bảo lĩnh, có thể chỉ ra một số quan điểm sau: Theo BLTTHS năm 2003, quy định tại Điều 92: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh” [34]. Quan điểm này đã làm rõ căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh đó là căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, đây là hai căn cứ quan trọng, là cơ sở pháp lý mà các cơ quan THTT dựa vào đó để áp dụng.
Còn điều kiện áp dụng như thế nào thì chưa được đặt ra. Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự thay thế cho biện pháp tạm giam, được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng [9]. Đồng quan điểm này Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập” [53]. Các quan điểm này đã làm rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đối tượng áp dụng, chủ thể nhận bảo lĩnh, thủ tục bảo lĩnh, mục đích áp dụng biện pháp này nhưng lại thiếu sót khi chưa đưa ra căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh.
Quan điểm của GS. TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo. Bảo lĩnh là BPNC ít nghiêm khắc hơn tạm giữ, tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án [57]. Bên cạnh việc làm sáng tỏ về thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng, tác giả đã chỉ rõ hơn điều kiện và mục đích áp dụng biện pháp bảo lĩnh mà không phải quan điểm nào cũng nêu ra là “được áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án”.