đặt vấn đề, phân tích vấn đề. Bên cạnh phƣơng pháp truyền thống là điền dã dân tộc học, hiện nay các học giả thƣờng sử dụng phƣơng pháp liên ngành, đa ngành nhằm phân tích đa chiều trong hoạt động sinh kế để nhận diện và phân tích những yếu tố tác động đến sự biến đổi của hoạt động sinh kế hiện nay so với truyền thống. Những công trình nghiên cứu thời gian sau này đều thống nhất rằng, do sự tác động của các chính sách, sự giao lƣu văn hóa giữa các dân tộc, yếu tố tôn giáo, sự thay đổi môi trƣờng sống,… là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay 11 đổi sinh kế hiện nay. Tuy nhiên sự thay đổi này theo chiều hƣớng tích cực, điều này đƣợc thể hiện qua các công trình nghiên cứu nhƣ: Tạ Hữu Dực trong Phục hồi sinh kế tại các cộng đồng tái định cư thủy điện Sơn La và vai trò của tri thức địa phương tộc người [28]; Phạm Thị Thu Hà trong Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay [54]; Ngô Thị Phƣơng Lan trong Sinh kế của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer ở Bình Phước trong bối cảnh phát triển hiện nay [72], Mối quan hệ giữa môi trường và sinh kế trong hoạt động kinh tế biển của cư dân huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang [75], Các dạng thức sinh kế của cư dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh: sự tương tác của yếu tố chính sách, thị trường và môi trường [73]; Bùi Bích Lan trong Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [78]; Nguyễn Đăng Hiệp Phố trong Sinh kế người Mạ ở vườn Quốc gia Cát Tiên [92]; Huỳnh Ngọc Thu trong Hoạt động kinh tế của các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ: truyền thống và biến đổi [95]; Nguyễn Văn Sửu với công trình nghiên cứu Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo [88]; ….
Đặc biệt, công trình nghiên cứu về khung sinh kế của Nguyễn Văn Sửu đ đƣợc nhiều NCS sử dụng làm khung phân tích chính trong luận án. Qua tổng quan các công trình nghiên cứu từ sau 1975 đến nay luận án nhận thấy, nghiên cứu về sinh kế của các học giả trong nƣớc rất đa dạng, phong phú. Càng về sau các công trình nghiên cứu càng đi sâu vào phân tích sâu từng vấn đề cụ thể, từ đó đƣa ra những định hƣớng cũng nhƣ giải pháp nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn bao quát và khách quan. Đây chính là nguồn tƣ liệu quý giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều trong tiếp cận và nghiên cứu vấn đề mà luận án hƣớng đến.
Những nghiên cứu về sinh kế của người Chil Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp do đó hoạt động sinh kế nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với các dân tộc thiểu số. Các tác giả khi nghiên cứu về hoạt động sinh kế trong truyền thống của các dân tộc ở Lâm Đồng nói chung, ngƣời Chil nói riêng nhƣ: [18], [26], [27], [35],. đều cho rằng các dân tộc thiểu số tại chỗ chủ 12 yếu sinh sống bằng nghề trồng trọt. Tuy nhiên, do đặc thù địa hình nên có sự khác nhau về hình thức canh tác cũng nhƣ hình thức cƣ trú giữa các nhóm địa phƣơng.
Khi đề cập đến sinh kế chủ đạo của ngƣời Cơ Ho, Phan Ngọc Chiến [18] cho rằng đó là trồng trọt, ngoài ra còn có chăn nuôi và khai thác tự nhiên. Theo ông, tất cả các nhóm địa phƣơng của dân tộc Cơ Ho đều làm rẫy bằng lối du canh theo chu kỳ, cây lƣơng thực chính của các nhóm Cơ Ho là lúa, riêng nhóm Chil là b p. Trong bài viết của mình, Nguyễn Văn Diệu cũng cho rằng, các dân tộc ít ngƣời ở Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, địa hình nên mỗi nhóm có những n t canh tác riêng biệt.
“Các dân tộc ít người tỉnh Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt. Các nhóm sinh sống trên những vùng núi cao, vùng xa xôi hẻo lánh ít có điều kiện tiếp xúc với các dân tộc khác như người Chil, người Mạ,. đốt rừng làm rẫy là phương thức canh tác chủ yếu” [26]. Đồng quan điểm trên, Bùi Minh Đạo cũng cho rằng, “Trồng trọt là hoạt động sản xuất truyền thống chính yếu của người Cơ Ho.
Tùy theo địa hình và đất đai mà tồn tại ở các nhóm địa phương những hình thức trồng trọt khác nhau” [35]. Sau khi đất nƣớc tiến hành đổi mới (1986), những công trình nghiên cứu riêng về các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng đƣợc các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Khi phân tích, đánh giá những tác động về các chính sách kinh tế x hội dƣới thời Pháp – Mỹ, đối với các hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng, các nhà nghiêu cứu cho rằng, với chính sách dồn dân lập ấp chiến lƣợc, tƣớc đoạt đất đai, lập đồn điền đ làm cho cuộc sống cũng nhƣ hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ có nhiều biến đổi, đƣợc thể hiện qua một số công trình nghiên cứu nhƣ: [26], [36], [45]. Trong thời gian gần đây, các học giả có xu hƣớng đi sâu nghiên cứu từng cộng đồng dân tộc cụ thể, kể cả các nhóm địa phƣơng nhƣ nhóm ngƣời Chil.
Do đó, các bài viết, công trình nghiên cứu về ngƣời Chil – với tƣ cách là một nhóm độc lập b t đầu xuất hiện nhƣ: [19], [46], [96], [98]. Trong bài viết Một số đặc điểm kinh tế - xã hội của người Chil ở xã Đa Sar [23], Nguyễn Viết Cƣờng phân tích khá chi tiết những thay đổi của cộng đồng ngƣời Chil từ sau khi đất nƣớc giải phóng từ kinh tế, 13 văn hóa, x hội, tôn giáo. Tuy nhiên, bài viết chỉ gói gọn trong một xã thuộc vùng sâu xa của huyện Lạc Dƣơng. Công trình nghiên cứu về ngƣời Chil gần đây nhất là của Phạm Thanh Thôi với tựa đề Sự biến đổi trong hôn nhân của người Chil ở Lâm Đồng.
Mặc dù công trình nghiên cứu về hôn nhân, nhƣng trong chƣơng 1, Phạm Thanh Thôi dành gần 10 trang nói về những yếu tố chủ quan và khách quan đ tác động làm cho sinh kế của ngƣời Chil có những thay đổi nhất định, “về phương diện sản xuất kinh tế đã có nhiều chuyển đổi. Họ đã có quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm kinh tế trong bối cảnh các quan hệ kinh tế thị trường”[96]. Qua tổng quan những công trình nghiên cứu trên, các bài viết giúp luận án nhận diện đƣợc các hoạt động sinh kế truyền thống cũng nhƣ sự biến đổi của các hoạt động sinh kế qua các thời kỳ lịch sử của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu về sự biến đổi sinh kế hiện nay của ngƣời Chil so với truyền thống.
Do đó, việc nghiên cứu để góp thêm nguồn tƣ liệu khoa học liên quan đến sự biến đổi sinh kế của ngƣời Chil trong bối cảnh phát triển bền vững là vấn đề thiết thực. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố Trong khuôn khổ luận án, chƣa thể tổng quan và đánh giá đầy đủ các nghiên cứu liên quan đến sinh kế trƣớc đây. Tuy nhiên, qua tổng quan những công trình trên, chúng tôi có một số nhận xét sau: Về ưu điểm: Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến tầm quan trọng của hoạt động sinh kế đối với đời sống các dân tộc nói chung, dân tộc thiểu số nói riêng. Các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề nhƣ khái niệm sinh kế; tầm quan trọng của sinh kế đối với đời sống con ngƣời, đối với sự phát triển văn hóa, xã hội; sinh kế đối với phát triển bền vững,….
Đây là nguồn tƣ liệu quan trọng giúp luận án có cái nhìn tổng thể, toàn diện và hiểu r hơn những vấn đề lý luận về sinh kế nhƣ: khái niệm, vai trò, tầm quan trọng, khung phân tích cũng nhƣ đƣa ra các chỉ tiêu nghiên cứu, đánh giá về sự biến đổi sinh kế hiện nay so với truyền thống của các dân tộc nói chung, ngƣời Chil nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu về sinh kế luận án có tham khảo, kế thừa các khái niệm về sinh kế, vai trò của sinh 14 kế,… từ các tác giả nhƣ Trần Bình, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Thị Tám, Nguyễn Văn Sửu, Ngô Thị Phƣơng Lan, Bùi Minh Đạo,…. Bên cạnh đó, để làm r hơn sự biến đổi trong sinh kế của ngƣời Chil luận án sử dụng phƣơng pháp điền d Nhân học/Dân tộc học nhằm bổ sung tƣ liệu cho luận án. Hạn chế: Mặc dù các công trình nghiên cứu liên quan đến sinh kế rất đa dạng, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tuy nhiên vẫn chƣa có công trình nào chuyên sâu nói về sinh kế của ngƣời Chil.
Và đây cũng là điểm mới của luận án. Một số khái niệm Sinh kế Sinh kế (livelihood) là cách kiếm sống của con ngƣời nói chung trên toàn thế giới. Do đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dƣới nhiều góc độ và tên gọi khác nhau nhƣ: hoạt động mƣu sinh, phƣơng thức mƣu sinh, phƣơng thức sinh tồn, sinh kế, hoạt động kinh tế,. Những công trình đề cập đến nội hàm và các khái niệm liên quan đến sinh kế có thể kể đến nhƣ sau: Công trình “Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh” của Emily A.
Lavenda (do Phan Ngọc Chiến, Hồ Liên Biện dịch) đ sử dụng thuật ngữ “phương thức mưu sinh” và “phương cách sinh tồn” để nói về sinh kế. Theo đó, sinh kế là cách “con người tự tạo ra những phương thức, sử dụng các mối quan hệ giữa họ với nhau và với môi trường tự nhiên để kiếm sống. Sinh tồn là một từ được dùng để chỉ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất để tồn tại của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở. Những cách khác nhau mà con người ở các xã hội khác nhau dùng để thoả mãn những nhu cầu này được gọi là những phương cách sinh tồn” [48; 418].
Và để phân biệt giữa những ngƣời thu nhặt lƣơng thực và sản xuất lƣơng thực, các tác giả đ đề xuất một sơ đồ các thành tố hợp thành phương cách sinh tồn và được nhiều nhà khoa học chấp nhận, theo đó, phương cách sinh tồn ở cấp một gồm hai yếu tố hợp thành: thu lƣợm lƣơng thực và sản xuất lƣơng thực.