mở đầu cho chủ trương khẩn hoang của nhà nước phong kiến triều Nguyễn. Riêng vùng đất Tây Nam Bộ, tác phẩm nhấn mạnh quá trình kết hợp, giao lưu tiếp biến văn hóa ở ba tộc người Việt – Hoa – Khmer hình thành nên một nền văn hóa đặc thù của địa phương. Yếu tố tôn giáo tín ngưỡng cũng được phác thảo trong tác phẩm thông qua hai chương nói về phật giáo và chùa tại vùng. Những chi tiết đúc kết được từ tác phẩm sẽ tạo nền tảng để chúng tôi chi tiết hóa các khái niệm liên quan phục vụ cho công tác nghiên cứu.
* Nhóm tài liệu về sinh kế Ở mảng tài liệu tham khảo về sinh kế, tôi tập trung tìm hiểu về vấn đề biến đổi sinh kế ở các địa phương để có thể tạo tiền đề làm rõ vấn đề chính của luận văn một cách chặt chẽ nhất. Trên thực tế, các công trình nghiên cứu về mảng biến đổi sinh kế chưa thật sự nhiều và chưa thật sự có bề dày lịch sử nghiên cứu cao. Theo tìm hiểu, trong khoảng trên dưới mười năm trở lại đây, hòa cùng dòng chảy công nghiệp hóa – hiện đại hóa của thế giới, cũng như các vấn đề di dân di cư, phát triển du lịch của nhân loại, các công trình nghiên cứu về biến đổi sinh kế được tập trung phát triển một cách toàn diện ở nhiều mặt. Các công trình nghiên cứu đã đề cập, đánh giá, nhân diện những yếu tốc, khía cạnh liên quan đến vấn đề sinh kế, mưu sinh như phong tục tập quán lao động sản xuất, nguồn lực xã hội, nguồn lực văn hóa, nghi lễ, tri thức liên quan đến hoạt động sinh kế,… Khi nghiên cứu về nhóm tài liệu về sinh kế này, chúng tôi chia ra làm 2 nhóm nhỏ đó là nhóm tài liệu nghiên cứu tổng quan về sinh kế, và nhóm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi sinh kế.
- Tổng quan về vấn đề sinh kế Tạp chí Khoa Học trường Đại Học Cần Thơ, tài phần D: Khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật: 38 (2015): 120-129, có bài viết: “Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của nông hộ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” 8 của tác giả Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng. Bài viết đưa ra kết luận rằng chất lượng vốn nhân lực có tác động tích cực đến chiến lược đa dạng sinh kế của nông hộ khi mà họ có thể thực hiện các hoạt động phi nông nghiệp. Đa dạng sinh kế nông nghiệp của nông hộ có sự ảnh hưởng tích cực của hầu hết các nguồn vốn sinh kế trong nông hộ, từ đó đề cao tầm quan trọng của sự đa dạng sinh kế nông nghiệp. Kết quả sinh kế ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó vốn xã hội, vật chất và tài chính, cùng chất lượng lao động đóng vai trò thúc đẩy kết quả sinh kế tốt (tr.
Luận văn thạc sĩ “Tính dễ bị tổn thương do ngập lụt và xâm nhập mặn đến sinh kế nông hộ ở xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, Long An – Hiện trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Minh Hiếu, hoàn thành năm 2017. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định vai trò quan trọng và cấp bách của việc xây dựng sinh kế bền vững (tr. Tác giả đã thể hiện được mối tương quan giữa hoạt động sinh kế và hiện tượng sinh thái tự nhiên, thông qua hiện trạng ngập lụt và xâm nhập mặn ở địa bàn nghiên cứu. Công trình nghiên cứu “Sinh kế tộc người trong bối cảnh Việt Nam đương đại” - 2019 của TS.Ngô Thị Phương Lan chủ biên, đây là một công trình nghiên cứu mang tính chi tiết khá cao tập hợp 22 bài nghiên cứu khoa học tập trung về mảng sinh kế lấy phạm vi thời gian từ cuối thế kỷ XX.
Ở phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn này, tôi tập trung vào các bài viết ở khu vực Tây Nam Bộ. Nhiều vấn đề đã được đề cập và làm rõ ở công trình này. Ở bài viết “Hành vi giảm thiểu và phân tán rủi ro của nông dân nuôi tôm vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” (tr.28), tác giả Ngô Thị Phương Lan đề cập đến vấn đề “chấp nhận rủi ro”, cùng với cách tiếp cận tránh rủi ro của James Scott (1976) và cách tiếp cận kinh tế thị trường của Samuel Popkin (1979) để giải thích cho hành vi: chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm và thực hành nuôi tôm (tr. 9 Bài nghiên cứu: “Đặc điểm sản xuất thị trường của các hộ nông dân trồng lúa gạo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”, tác giả Ngô Thị Phương Lan cũng đưa ra quan điểm về sự tính toán lợi ích sinh kế của các hộ gia đình, hành vi kinh tế của các hộ nông dân là kết quả của sự tương tác giữa tính toán duy lý và cấu trúc thị trường (tr.
Theo dõi quá trình sản xuất lúa gạo ở hai mốc thời gian sau năm 1975, và sự trở lại trên thị trường thế giới năm 1989, bài viết là một nỗ lực nhận diện đặc điểm sản xuất thị trường của nông dân ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay (tr. Cụ thể thông qua các đặc điểm sản xuất theo định hướng thị trường như: Mở rộng diện tích canh tác, bao gồm: xu hướng tích tụ đất đai và phong tục chia đất cho con cái, hành động tích tụ tư liệu sản xuất (tr. Đặc điểm tăng vụ và tham gia vào việc làm phi nông nghiệp với hành vi cân nhắc canh tác thêm các loại rau màu và cây ăn trái ngắn ngày (tr. Sự hình thành mô hình cánh đồng mẫu lớn thể hiện cho “chuỗi giá trị sản xuất” là biểu hiện cho nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên thái độ hợp tác của người dân đối với mô hình này đó là biểu hiện của sư tính toán duy lý về hiệu quả sản xuất (tr.113), từ đó dẫn đến hiện tượng “da beo” trên cánh đồng mẫu (tr. Một khái niệm liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi được đề cập đến đó là “tư duy kinh tế hộ gia đình” (tr.116), đây sẽ là một yếu tố quyết định đến kết quả quá trình biến đổi sinh kế. Vấn đề sinh kế của tộc người Khmer một trong những nhóm cộng đồng chiếm số lượng dân cư lớn ở ĐBSCL nói chung, và tại Cần Thơ nói riêng được quan tâm tìm hiểu đến trong tác phẩm. Cụ thể thông qua 3 bài viết do tác giả Ngô Thị Phương Lan biên soạn “Tính năng động trong sinh kế của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh” (tr.220), “Vấn đề tiếp cận các chính sách của nhà nước ở người Khmer (nghiên cứu tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh)”, “Bất ổn sinh kế và di cư lao động của người Khmer ở Đồng Bằng 10 Sông Cửu Long”.
Trên thực tế, tại Cồn Sơn không có nhiều dấu ấn của cộng đồng người Khmer, tuy nhiên dựa trên những yếu tố hoàn cảnh (địa lý, xã hội, tri thức…) người dân Cồn Sơn cũng có những khó khăn tương tự cộng đồng người Khmer. Nhiều vấn đề thiết thực liên quan đến sinh kế đã được phát hiện và làm rõ tại các bài viết trên, như tính năng động trong sinh kế thể hiện như nỗ lực thích nghi với điều kiện sống hiện nay (tr. Chủ thể lao động đã biết điều chỉnh hình thức sinh kế để mang lại lợi nhuận cao hơn. Cụ thể như sự xuất hiện của các tổ hợp trồng lúa (tr.223), chuyển từ trồng lúa sang trồng hoa màu do có đất sản xuất phù hợp (tr.224), mở rộng mục đích của việc trồng cây từ động cơ ban đầu là do đặc trưng tôn giáo tín ngưỡng (Phật giáo Theravada) trở thành một hoạt động sinh kế (tr.
Sự đa dạng hơn trong ngành nghề chăn nuôi, hình thành nghề nuôi tôn vào mùa nước mặn (tr. Các ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống đã xuất hiện ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật tiên tiến dưới sự điều phối của tổ kinh tế hợp tác (tr. Song song đó, các chính sách phát triển của nhà nước ngày càng phổ biến, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng cho người dân (tr. Diễn ra phổ biến nhất đó là các chính sách vay vốn làm ăn được điều phối và chịu trách nhiệm từ các hội đoàn (tr.
Các hội đoàn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau vì cùng thụ hưởng từ ngân hàng Chính Sách Xã Hội (tr. Tuy nhiên những vấn đề hạn chế vẫn luôn tồn đọng, nguyên do chính là do sự thụ động từ chính người dân, họ không biết cách nào để tiếp cận, chỉ chờ “được kêu” (tr. Hoặc sự e ngại về rủi ro trong sản xuất đã hạn chế sự tiếp cận của người dân với các chính sách hỗ trợ (tr. Từ những hạn chế sẽ hình thành hiện trạng bất ổn sinh kế, dẫn đến xuất hiện hiện tượng di cư lao động, đây là vấn đề phổ biến không chỉ ở cộng động người Khmer mà là của các cư dân ĐBSCL, vấn đề này diễn ra bao gồm cả những người có đất sản 11 xuất nhưng gặp bất ổn trong sinh kế nông nghiệp (tr.
Hệ lụy của hiện trạng này dẫn đến các kết quả như: xu hướng trẻ hóa lực lượng di cư lao động (tr.271), tác động tiêu cực đến cộng đồng, thay đổi kết cấu xã hội tự nhiên, tình cảm gia đình và sự gắn bó với cộng đồng (tr. - Nhóm tài liệu về vấn đề biến đổi sinh kế Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Tấn Đăng Long với đề tài “Biến đổi sinh kế của cư dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long từ năm 1986 đến nay (Nghiên cứu trường hợp xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An)” hoàn thành năm 2015. Đề tài này đã vận dụng khái niệm về “Thích ứng sinh kế”, bao gồm thích ứng tự phát và thích ứng có kế hoạch (tr.9) để nghiên cứu sự tiếp nhận của người dân (tr.76) trước chính sách Đổi Mới về kinh tế trên cả nước và ở địa phương từ năm 1986 (tr. Kết quả của quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, đã tác động mạnh đến đời sống vật chất, văn hóa – xã hội làm cho bộ mặt của người dân tại địa bàn nghiên cứu thay đổi theo hướng tích cực (tr.
Thạc sĩ Dương Trường Phúc với đề tài luận văn “Tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng với biến đổi môi trường của nông dân trồng lúa tại thị xã Tân Châu, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” – 2018, vận dụng X suốt khái niệm “tổn thương sinh kế” và “năng lực thích ứng” (tr.