CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY, KIẾN TRÚC THUỘC ĐỊA PHÁP VÀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. CÁC THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về “biến đổi” Theo giới hạn của đề tài này, thuật ngữ “biến đổi” xuất phát từ hóa học và vật lý. Thuật ngữ này trong lĩnh vực hóa học dùng để chỉ sự biến đổi từ chất này sang chất khác, còn trong lĩnh vực vật lý là sự biến đổi mà trong đó tính chất của các chất không thay đổi [88].
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng trong lĩnh vực triết học, quy luật của sự “biến đổi” được phát biểu như sau: “Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi” [43, tr. Như vậy, biến đổi chính là sự dung nạp sau đó có chọn lọc để thay đổi về chất của sự vật và phát triển thành những hình thức cao hơn, thích nghi hơn hoặc trở thành những chất mới. Luận án bàn về sự biến đổi hình thức của kiến trúc phương Tây trong một số công trình công sở tại Đông Dương, chính là đề cập đến việc kiến trúc phương Tây theo con đường của chủ nghĩa thực dân đã tiếp cận vào kiến trúc của các nước thuộc địa, sau đó tiếp thu có chọn lọc các yếu tố của kiến trúc bản địa một cách biện chứng theo quy luật của sự vận động và phát triển.
Khái niệm về “Kiến trúc phương Tây” KTPT là một dòng lịch sử phát triển của kiến trúc loài người từ thời tiền sử cho đến thời kỳ hiện đại, diễn ra tại phần lớn ở khu vực châu Âu ngày nay. Lịch sử KTPT đã trải qua nhiều giai đoạn với các phong cách khác nhau. Nếu được phân chia theo dòng lịch sử, người ta có thể phân chia ra các dòng kiến trúc như kiến trúc thời kì tiền sử, kiến trúc Ai Cập cổ đại, kiến trúc Cổ điển, kiến trúc Trung cổ, kiến trúc Phục Hưng,… Trong luận án này, các vấn đề liên quan đến lịch sử KTPT sẽ tập trung vào giai đoạn của kiến trúc Cổ 10 điển, khi mà các đặc điểm của kiến trúc cổ đại HL-LM đã trở thành cái nôi của nền KTPT vĩ đại. Vào TK 19, KTPT đã phát triển vô cùng mạnh mẽ.
Trong thời kỳ này xuất hiện sự pha trộn của nhiều luồng tư tưởng đến từ các KTS trẻ, mà sau này sẽ trở thành chủ đề cho các phong trào nghệ thuật. Từ những bình diện đó, là một phân nhánh của lịch sử nghệ thuật, tập trung vào lịch sử phát triển của các nguyên tắc và phong cách thiết kế công trình kiến trúc và thiết kế đô thị [99]. Khái niệm về “Kiến trúc thuộc địa” KTTĐ là phong cách kiến trúc từ các nước bảo hộ được đưa vào các khu vực định cư hoặc các nước thuộc địa ở các địa điểm xa xôi. Những người theo chủ nghĩa thực dân thường xây dựng các đô thị, các công trình mang đặc điểm thiết kế từ quốc gia xuất xứ của họ tại vùng đất mới, tạo ra các thiết kế lai tạp.
Tại VN, Lào và Campuchia, thể loại KTTĐ được du nhập từ các nước phương Tây theo cùng với sự xuất hiện của người Pháp vào nửa sau TK 19- nửa đầu TK 20. Trong quá trình khai thác thuộc địa của người Pháp, loại hình này đã phát triển song song. Tuy nhiên, do đặc điểm riêng của từng loại điều kiện tự nhiên, KH, địa lý. nên KTTĐ đã có những chuyển biến nhất định để phù hợp với đặc điểm bản xứ của từng khu vực [89].
Khái niệm về “Công sở” Theo định nghĩa của các văn bản lưu hành tại Pháp, “công sở” (“Établissement public”, “Service public”) nghĩa là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện và những cá nhân được chính quyền bổ nhiệm để thực hiện các chức trách của mình. Để nhận biết một CTCS, cần phải có những yếu tố như: - Tổ chức: có cơ cấu tổ chức bộ máy và phân công chức năng; - Chức năng: thực hiện các nhiệm vụ công ích, công cộng; - Vật chất: có các loại phương tiện, tài sản, thiết bị phục vụ hoạt động; - Pháp lý: có thể chế, quy tắc hoạt động nghiêm ngặt [28]. -Vốn đầu tư: từ ngân sách nhà nước. Với những dấu hiệu cơ bản của công sở nêu trên, nếu xét về các CTCS thực hiện các chức trách của chính quyền Pháp đặt ra để quản lý và xây dựng nền thuộc địa tại ba nước ĐD, không thể không nhắc đến các kiến trúc của dinh toàn quyền, tòa án, ngân hàng, tòa thị 11 chính, trại chỉ huy quân sự… Tuy nhiên, trong thực tế, vào thời kỳ Pháp thuộc, có một số cơ quan không thực hiện chức năng quản lý của chính quyền Pháp tại ĐD nhưng vẫn được xem là công sở như bệnh viện, trường học, học viện,…[10].
Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm công sở có thể được hiểu theo những cách sau đây: - Theo nghĩa rộng, “công sở” là thuật ngữ dùng để chỉ một pháp nhân công sở và là bộ phận quan trọng hợp thành bộ máy được thành lập theo chỉ thị của chính quyền (có trụ sở và tài sản) nhằm thực hiện chức năng quản lý và phục vụ xã hội. - Theo nghĩa hẹp, “công sở” là các cơ quan chỉ bao gồm các trụ sở thuộc bộ máy hành chính của chính quyền đứng đầu là Toàn quyền, sẽ thực hiện chức năng quản lý bộ máy chính quyền thời kỳ Pháp thuộc. - Theo nghĩa hẹp hơn nữa, “công sở” còn được hiểu với thuật ngữ “trụ sở” chỉ một địa điểm cụ thể, một thực thể hiện hữu về kiến trúc (công trình, nhà, cảnh quan) và các phương tiện, thiết bị phục vụ cho hoạt động của một cơ quan chính quyền nói chung. Với những phân tích về khái niệm công sở nêu trên, có thể thấy, những loại hình kiến trúc công sở phổ biến tại ba nước ĐD bao gồm 3 loại hình kiến trúc công sở chủ đạo: - CTCS đa chức năng (vừa là nơi làm việc hành chính, vừa là nơi ở: Dinh Norodom, Dinh Xã Tây, Dinh Gia Long,… - CTCS đơn năng với chức năng chính là làm việc hành chính và quản lý chính quyền: trụ sở tòa án, ngân hàng, kho bạc,… - CTCS thực hiện các nhiệm vụ công ích xã hội, làm việc hành chính nhưng không có chức năng quản lý chính quyền như: trường học, bệnh viện, học viện, bảo tàng, bưu điện… 1.
KHÁI QUÁT VỀ KIẾN TRÚC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY VÀ KIẾN TRÚC CỔ ĐIỂN PHÁP 1. Kiến trúc Cổ điển phương Tây Kiến trúc HL-LM, vốn là cái nôi của Chủ nghĩa Cổ điển thế giới. Những biểu hiện của kiến trúc và nghệ thuật trong thời kỳ này là chuẩn mực về cái đẹp được lấy làm khuôn mẫu cho những thời kỳ sau [23]. Đầu tiên là nhà nước chiếm hữu nô lệ HL cổ đại , xuất hiện từ những năm 3000-30 TCN và được chia ra thành 2 giai đoạn: Tiền HL và HL chính thống.
Nhìn chung, đặc điểm kiến trúc của giai đoạn Tiền HL tuy đã hình thành rõ rệt nhưng chưa phải là những chuẩn mực cho các thời kỳ sau noi theo. Sau khoảng thời gian bị gián đoạn, 12 HL bắt đầu hưng thịnh trở lại trong thời kỳ HL chính thống. Trong thời kỳ này, đặc điểm kiến trúc đã bắt đầu hình thành nên những chuẩn mực về hình mẫu của cái đẹp. Khi người LM sang chinh phục HL, nền văn minh của HL được tiếp thu mạnh mẽ trong thời kỳ của người LM (500 TCN -330 SCN).
Sau khi kết thúc thời kỳ Cổ đại, nền văn minh nhân loại bước vào thời kỳ mới- thời kỳ Trung đại của TK V sau Công nguyên (bảng 1. Lúc này xuất hiện một loạt các phong cách kiến trúc mới như: Thiên chúa giáo tiền kỳ (VI-VII SCN), kiến trúc Byzantium (IV- XIV SCN), Roman (IX-XII SCN), Gothic (XII-XVII SCN). Nối tiếp là Thời kỳ Phục Hưng hay còn gọi là Renaissance có nghĩa là “rebirth” – hồi sinh, xuất hiện vào TK thứ XV-XIX đã làm hồi sinh và phát triển tiếp tục nền văn minh của HL-LM. Đây là giai đoạn rất quan trọng, làm tái sinh Chủ nghĩa Cổ điển và cũng là lần thứ nhất mà Chủ nghĩa Cổ điển quay lại sau một khoảng thời gian bị gián đoạn [33].
Lý do khiến cho Chủ nghĩa Cổ điển được làm sống lại và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này là do chế độ quân chủ của giai cấp tư sản đã tìm thấy trong văn hóa Cổ đại những tư tưởng về chính trị-xã hội phù hợp. Điều này giúp cho giai cấp tư sản chống lại giai cấp phong kiến và cởi mở hơn với quần chúng nhân dân. Ngoài ra, các KTS được quyền thể hiện cá tính riêng của mình trong các công trình kiến trúc - điều mà không thể có được trong thời kỳ Cổ đại. Thời kỳ này được mở đầu bằng việc tẩy chay phong cách kiến trúc Gothic (bởi tư tưởng xóa sạch quá khứ của nó) và phục dựng lại di sản của nền kiến trúc LM cổ đại.
Kiến trúc Hy-La được khôi phục lại trong thời kỳ Phục Hưng không chỉ theo cách vốn dĩ của nó mà còn được phát triển ở một cấp độ hoàn hảo hơn [34]. Tiêu biểu lúc bấy giờ chính là Pháp, nơi có nền kiến trúc Phục Hưng phát triển thành công hơn cả… Việc vua Louis XIV cho thành lập viện Hàn Lâm kiến trúc tại Paris là một sự kiện quan trọng gắn liền với sự xuất hiện của Chủ nghĩa Kinh điển Pháp (Classicism)-một xu hướng khá quan trọng lúc bấy giờ [23]. Chủ nghĩa Kinh điển Pháp tiếp tục khai thác những tinh hoa của kiến trúc Cổ đại HL-LM. Chủ nghĩa này dần xa rời phong cách Gothic, tiếp tục kế thừa tinh thần của kiến trúc Hy- La và Phục Hưng để phục vụ cho sự uy nghi, bề thế của giai đoạn đang hưng thịnh của chế độ quân chủ chuyên chế và mầm móng đang xuất hiện của Chủ nghĩa Tư bản.
Chủ nghĩa kinh điển Pháp kéo dài cho đến cuối TK XVIII cũng được xem như là một dấu chấm hết cho giai đoạn kiến trúc Cổ điển trên toàn thế giới. Bắt đầu từ đây, nền kiến trúc đã bước 13 vào thời kỳ phát triển mới, đó là nền kiến trúc Cận đại (TK XVIII-XIX) (bảng 1.03) với nhiều phong cách, xu hướng, trào lưu khác nhau (sơ đồ 1. Đây cũng là lúc Pháp bắt đầu xâm lược các nước thuộc địa, trong đó có ĐD.