Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 3. Sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay. Kết luận và khuyến nghị.
15 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã mang theo luồng gió mới đến cho sự thay da đổi thịt của sự phát triển xã hội. Sự biến đổi đa dạng và nhanh chóng của các tầng lớp xã hội, từng tổ chức làng xã nông thôn đã trở thành đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu khoa học trong suốt hơn ba thập kỷ qua2. Đặc biệt những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về đô thị và tác động của nó đối với các lĩnh vực như di dân, giáo dục, gìn giữ và phát huy những di sản dân tộc được công bố và xem xét dưới nhiều góc độ chuyên môn khác nhau.
Với đề tài “Biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay” chúng tôi tổng quan tài liệu về vấn đề nghiên cứu theo các mục như sau: Những nghiên cứu về đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội, đô thị hóa và biến đổi đời sống văn hóa tinh thần cùng với những nghiên cứu về người dân Bạc Liêu. Đô thị hóa và biến đổi kinh tế-xã hội Các học giả chủ yếu đi sâu vào sự biến đổi kinh tế xã hội ở vùng nông thôn, nhất là khu vực ven đô dưới sự tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở chủ đề này được thực hiện khá thú vị. Nhìn nhận và đánh giá tình hình đô thị hóa chung của Việt Nam vào những năm đầu đổi mới có bài Đô thị hóa ở Việt Nam những năm 90: một số đặc trưng kinh tế xã hội cơ bản của Nguyễn Hữu Minh [30] đã nêu lên một số đặc điểm kinh tế xã hội chủ yếu của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong thập niên 90, tập trung vào những khác biệt về kinh tế - xã hội và nhân khẩu giữa đô thị và nông 2 TSKH.
Phan Hồng Giang (chủ biên) 2005, Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, NXB Văn hóa – Thông tin – Hà Nội 16 thôn. Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã tạo ra được khuôn mẫu phát triển mới về cơ bản khác với khuôn mẫu nông thôn. Có thể đánh giá rằng vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, đô thị Việt Nam có những đặc trưng chủ yếu tương tự như các đô thị trên thế giới khi so sánh với khu vực nông thôn. Bài viết nhận định rằng mức độ đô thị hóa tăng lên ở Việt nam trong những năm 90 gắn liền với quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội của xã hội Việt Nam trong thời kỳ này.
Những biến đổi này bao gồm sự tăng lên của trình độ giáo dục, đa dạng hóa cơ cấu nghề nghiệp và tăng sự hội nhập về không gian. Sự thay đổi mạnh mẽ diễn ra ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống trong quá trình đô thị hóa. Hay với những nghiên cứu từng khu vực như trong cuốn Sự biến đổi ở làng xã ngày nay ở đồng bằng sông Hồng [18], Tô Duy Hợp và các tác giả đã phân tích, tổng hợp một bức tranh đa sắc về sự biến đổi của đồng bằng sông Hồng sau 10 năm đổi mới. Sau khi tổng hợp một số thành tựu đã đạt được như tiến bộ về kinh tế xã hội trong đó có sự tăng nhanh về mức sống cùng với các dịch vụ cơ bản, đa dạng hóa các hình thức quan hệ sản xuất, nâng cao dân chủ cơ sở; nhóm tác giả còn phân tích các hạn chế do quá trình đô thị hóa dẫn đến quá trìnhh chuyển đổi các quan hệ làng xã hội trong làng – xã và bàn đến vấn đề lựa chọn chiến lược phát triển cộng đồng làng – xã ở Đồng bằng Sông Hồng.
Và Huỳnh Thị Gấm (1998), Những biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến 1995 [45]. Đề tài nhìn nhận rằng cho đến cuối thế kỷ XX, mức độ đô thị hóa dù chưa cao trào, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp, nhưng kinh tế - xã hội tại đây biến đổi một cách rõ rệt. Kéo theo những biến đổi không nhỏ trong đời sống tinh thần. Đề tài đã phân tích những nguyên nhân đưa đến những biến đổi của từng vấn đề, từng mặt cũng như toàn bộ những biến đổi chung về kinh tế - xã hội tại đây.
Chỉ ra những khó khăn thách thức trên con đường phát triển của vùng và là cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương chính sách đối với nông nghiệp – nông thôn – nông dân trong những năm của kỷ nguyên XXI. 17 Một khía cạnh khác của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đặc biệt là tại các vùng ven dưới sự tác động của nó làm biến đổi kinh tế xã hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như từ phương pháp tiếp cận lịch sử - xã hội học, Ngô Vương Anh trong công trình Sự biến đổi của Phú Thượng một xã nông nghiệp ven đô trong quá trình đô thị hóa [3] hay công trình nghiên cứu tiêu biểu trong Tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế hộ gia đình nông thôn của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa [16] đều đã cho thấy được những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội từ một vùng nông thôn thành phường nội thành dưới tác động của đô thị hóa. Trước hết, đô thị hóa đã tác động tích cực tới các vùng nông thôn nói chung, kinh tế hộ gia đình nói riêng. Đây là một cơ hội, một động lực thuận lợi để các gia đình thuần nông thực hiện sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, tiếp cận nhanh với thị trường trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ, trên các ngành nghề mới.
Bên cạnh đó là những tiêu cực trong các hoạt dộng kinh tế mang tính hàng hóa đang diễn ra sự phân cực giàu nghèo. Phần lớn số hộ gia đình nông dân vẫn lúng túng chưa tìm được lối thoát ra khỏi cơ cấu kinh tế thuần nông. Họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, nguy cơ gây ra nhiều khó khăn cho người dân trong quá trình thích ứng với xã hội đô thị, khiến họ bị gạt sang bên lề của sự phát triển kinh tế - xã hội. Và đây là một nguyên nhân tiềm tàng cho các loại tệ nạn xã hội, tội phạm nảy sinh tại khu vực mới đô thị.
Cũng nghiên cứu về chủ đề trên với khái niệm về vùng ven đô, những tác động của đô thị hóa đến các kinh tế - xã hội của vùng ven đô được Nguyễn Duy Thắng nêu rõ trong bài viết Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh tế - xã hội của vùng ven đô và những vấn đề cần quan tâm [35]. Tác giả nhận định đô thị hóa là một quá trình biến đổi kinh tế - xã hội. Đô thị hóa có những hệ quả kinh tế - xã hội đối với cả vùng đô thị và nông thôn. Đô thị hóa tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống của người dân ở các vùng ven đô.
Đô thị hóa không chỉ bó hẹp ở việc hình thành các đô thị mới trong đó có công nghiệp – dịch vụ, mà chính xác hơn, đô thị hóa còn có nghĩa là công nghiệp hóa cả khu vực nông thôn và các vùng ven đô thông qua việc xác lập các xí nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao 18 động nông thôn hạn chế sự di động năng lực từ nông thôn sang thành thị. Đô thị hóa theo hướng tích cực sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của khu vực đô thị nói riêng và cả quốc gia nói chung. Tuy nhiên những vấn đề đã đang và sẽ nảy sinh từ những vấn đề cấp bách như việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và ô nhiễm môi trường đang đặt ra cho những nhà quản lý và hoạch định chính sách những thách thức mới. Đô thị hóa và biến đổi đời sống văn hóa tinh thần Tác giả Mai Văn Hai qua bài viết Đời sống văn hóa tinh thần ở nước ta hiện nay [14] nhận định “đời sống văn hóa tinh thần của dân ta tuy đã có nhiều bước cải thiện song vẫn còn ở mức thấp.
Vì vậy cần phải quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân trước cấp độ quản lý văn hóa trong thời gian tới”. Đây là một nguồn tư liệu quý giá, giúp cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát về đời sống văn hóa tinh thần của người dân nước nhà nói chung cũng như thấy được mô hình văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu cụ thể hơn là trên hai địa bàn điển cứu trong đề tài của chúng tôi nói riêng. Bên cạnh đó là những tác giả đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh cụ thể về biến đổi đời sống văn hóa tinh thần như sự biến đổi trong quan hệ ứng xử và biến đổi trong sinh hoạt văn hóa tinh thần như sinh hoạt tín ngưỡng và hoạt động vui chơi giải trí trong gia đình – dòng họ và cộng đồng. Tiêu biểu là bài Một số nội dung cơ bản của giáo dục trước hôn nhân về quan hệ gia đình và cộng đồng của Nguyễn Thu Nguyệt [32] chỉ ra rằng khi kinh tế phát triển, kết hôn đa vùng miền tăng lên đòi hỏi có sự giao thoa về quan hệ ứng xử, lối sống, văn hóa đối với những cặp kết hôn ngoại vùng.
Những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng có thể phát sinh theo từng giai đoạn của chu trình sống gia đình nên thanh niên cần được giáo dục trước về những giai đoạn khác nhau đó để có thể tiên liệu, đối phó, tránh bỡ ngỡ cũng là một cách chuẩn bị tốt trong quan hệ ứng xử. Tác giả đã đưa ra những nội dung giáo dục về quan hệ ứng xử trong gia đình và cộng đồng cho thanh niên để chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân.