phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN Ở TỈNH BẠC LIÊU 1. Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng các Đảng bộ xã, phƣờng ở tỉnh Bạc Liêu 1. Các Đảng bộ xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu * Khái quát về xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu - Mấy nét về tỉnh Bạc Liêu Tỉnh Bạc Liêu được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1899, chính thức hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1900.
Năm 1956, tỉnh Bạc Liêu bị giải thể nhập vào tỉnh Ba Xuyên. Năm 1964, tỉnh Bạc Liêu được tái lập. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, tỉnh Bạc Liêu lại bị giải thể, nhập vào tỉnh Minh Hải. Ngày 06 tháng 11 năm 1996, tỉnh Bạc Liêu được tái lập, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1997.
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam. Phía Bắc giáp với Hậu Giang, phía Đông và Đông Bắc giáp với Sóc Trăng, phía Tây Nam giáp với Cà Mau, phía Tây Bắc giáp với Kiên Giang, phía Đông Nam giáp với Biển Đông. Diện tích đất tự nhiên của Tỉnh là 2.570 km2, chiếm gần 0.8% diện tích cả nước và đứng hàng thứ 7 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Bạc Liêu có địa hình khá bằng phẳng, không có đồi, núi chính vì lẽ đó cũng không có các chấn động địa chất lớn.
Địa hình chủ yếu là đồng bằng, sông rạch và kênh đào chằng chịt. Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa bắt đầu từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 10, tháng 11 và mùa khô hay còn gọi là mùa nắng thường bắt đầu từ tháng 10, tháng 11 năm trước đến tháng 4, tháng 5 năm sau. Nhiệt độ thấp nhất trong năm là 210C, nhiệt độ cao nhất trong năm là 360C. Bạc Liêu thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn, chủ yếu như rừng tràm, Luan van 11 chà là, giá, cóc, lâm vồ,.
Bên dưới là thảm thực vật gồm cỏ và các loài dây leo. Rừng Bạc Liêu có 104 loài thực vật, 10 loài thú nhỏ, 8 loài bò sát,. Bạc Liêu có tài nguyên biển khá dồi dào với chiều dài bờ biển 56 km, diện tích vùng biển là 4 vạn km2, động vật biển gồm 661 loài cá trong đó nhiều loại có giá trị cao, trữ lượng lớn (800 ngàn tấn), có thể đánh bắt khoảng 100 nghìn tấn mỗi năm. Bờ biển thấp và phẳng rất thích hợp để phát triển nghề làm muối, trồng trọt hoặc nuôi tôm, cá.
Hàng năm, sự bồi lấn biển ở Bạc Liêu ngày một tăng. Đây là điều kiện lý tưởng cho phát triển thêm quỹ đất, đồng thời là yếu tố quan trọng đưa kinh tế biển của Bạc Liêu phát triển. Thế mạnh du lịch của Bạc Liêu là du lịch sinh thái, du lịch biển với những cảnh quan thiên nhiên độc đáo như vườn chim, vườn nhãn. đồng thời với những di tích lịch sử - văn hoá như: Tháp cổ Vĩnh Hưng, đồng lịch sử Nọc Nạng, đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, hệ thống đình, chùa,.
sự hấp dẫn của du lịch Bạc Liêu còn ở những nét độc đáo trong ẩm thực, trang phục, lễ hội. Với những lợi thế về thiên nhiên, Bạc Liêu có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế biển và nông nghiệp: bao gồm đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp chế biến thuỷ sản, nông sản, dịch vụ tổng hợp và du lịch, giao thông có ý nghĩa quan trọng tác động vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh. Bạc Liêu nằm ở vị trí trung chuyển trên tuyến đường giao thông huyết mạch quan trọng của cả nước (Quốc lộ 1A), cách thành phố Cần Thơ khoảng 110 km và thành phố Hồ Chí Minh khoản 280 km về phía Bắc; hiện nay còn có các tuyến đường mới như Nam Sông Hậu, Ngã Bảy - Cà Mau đi qua địa phận tỉnh Bạc Liêu. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho Bạc Liêu trong sự giao lưu, phát triển kinh tế.
Về mặt lịch sử, vùng đất Bạc Liêu được hình thành trên 200 năm. Do điều kiện đất đai và cấu tạo dân cư buổi đầu, Bạc Liêu không giống các tỉnh miền Trung, miền Bắc. Dân cư không hình thành từ các "luỹ tre làng", "cha truyền con nối". Dân cư Bạc Liêu đa số là dân "xiêu tán" nghèo khổ "tha hương cầu thực".
Họ định cư rải rác trên những gò đất cao, trên các bờ sông, kinh xáng. Người Luan van 12 Kinh, Hoa, Khmer ở đan xen nhau, luôn tương trợ, đoàn kết khi hoạn nạn, chân thành cởi mở, thích "làm ăn lớn", phong cách ứng xử người dân Bạc Liêu mang tính cách nông dân thôn dã chất phát, bộc trực, phản kháng mạnh mẽ trước những bất công của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay do quá trình phát triển kinh tế thị trường và đô thị hoá, mà trong dân cư cả ở một số xã, thị trấn ven đô và dọc quốc lộ đang diễn sự thay đổi tư duy, tập quán sản xuất, sinh hoạt, lối sống. Nhân dân thành thị và nông dân đang tiếp thu nhiều cái mới, hiện đại nhưng cũng đang chịu tác động, ảnh hưởng không nhỏ bởi các tệ nạn xã hội.
Theo Cục Thống kê năm 2011 dân số của tỉnh là 873.300 người, mật độ dân cư trung bình 354 người/km2. Trong đó dân số sống ở thành thị đạt 234.700 người, dân số sống ở nông thôn đạt 638. Phần lớn đồng bào trong tỉnh là người Việt (Kinh), người Khmer chiếm 4,7%, người Hoa chiếm 3,3% và người Chăm. Đồng bào trong tỉnh chủ yếu theo các tôn giáo: Phật giáo, Thiên chúa giáo.
Về hành chính, Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố: Bạc Liêu và 6 huyện: Hồng Dân, Hòa Bình, Giá Rai, Phước Long, Vĩnh Lợi, Đông Hải; trong đó tính đến cuối năm 2012 có 64 xã, phường, thị trấn (03 xã thuộc thành phố, 48 xã thuộc huyện). Sau khi được tái lập, tỉnh Bạc Liêu có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có không ít khó khăn trong phát triển các mặt của địa phương. Thuận lợi là: Bạc Liêu là một trong những tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế; được kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Minh Hải để lại; nhân dân có truyền thống cách mạng cần cù năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, công tác, học tập; đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp đổi mới quê hương. Khó khăn chủ yếu là: điểm xuất phát về kinh tế, xã hội của tỉnh còn thấp so Luan van 13 với các tỉnh trong khu vực, nhất là cơ sở hạ tầng; đời sống một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào Khmer ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; tình hình cán bộ đảng viên có nhiều biến động lớn, đội ngũ cán bộ quản lý ở nhiều ban ngành thiếu, yếu; cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ yêu cầu công tác, nơi làm việc, chỗ ở cán bộ gặp nhiều khó khăn.
Nhận thức được những thuận lợi và khó khăn, Đảng bộ tỉnh tăng cường đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống cách mạng quý báu, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh khai thác tiềm năng, thế mạnh ở địa phương, nhanh chóng tổ chức bộ máy và cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo. Do đó, hơn 15 năm tái lập, Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu đã giành được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp được chuyển dịch tích cực và đúng hướng, góp phần tăng trưởng GDP của tỉnh đạt khá. Kết cấu hạ tầng nhất là hạ tầng nông thôn phát triển tương đối nhanh; an ninh đảm bảo, quốc phòng được củng cố; công tác xây dựng Đảng chính quyền, đoàn thể đều có những tiến bộ.
- Xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu Điều 110 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường” [20]. Theo đó xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính lãnh thổ cấp cơ sở của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ở đó có những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần trên một địa bàn cố định; có hệ thống tổ chức hành chính ổn định hoạt động theo Hiến pháp và Luan van 14 pháp luật. Trong xã bao gồm các làng, xóm, thôn, bản, ấp, buôn; phường chia thành khóm, tổ dân phố; thị trấn chia thành ấp. Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn lịch sử đều cho thấy xã, phường, thị trấn có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếp cụ thể hoá việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Cấp xã là nơi khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng trong từng thôn, bản, xóm, ấp, khu phố, từng gia đình, là nơi trực tiếp giải quyết những vấn đề đặt ra trong xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, phát động toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xã, phường, thị trấn ổn định về chính trị, vững mạnh về kinh tế, quốc phòng, an ninh là cơ sở, nền tảng tạo nên tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế - xã hội, tiềm lực quốc phòng toàn dân v.v… của các địa phương và trên phạm vi cả nước.