Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn từ năm 1997 đến năm 2005. Chương 2: Tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bắc Giang từ năm 2006 đến năm 2014. Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử. 11 z Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1.
Những yếu tố tác động đến nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phƣờng, thị trấn ở tỉnh Bắc Giang và chủ trƣơng của Đảng bộ 1. Những yếu tố tác động - Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và yêu cầu của công tác xây dựng TCCSĐ Đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH kể từ năm 1996, song nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa bền vững. Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996) nhận định, trong 10 năm đổi mới, Đảng đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện dần đường lối đổi mới một cách đúng đắn, sáng tạo, hình thành ngày càng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đã có chủ trương và biện pháp đổi mới, chỉnh đốn Đảng gắn với nhiệm vụ và biện pháp đổi mới, chỉnh đốn Đảng gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, kiện toàn hệ thống chính trị; Đổi mới một bước tổ chức cán bộ, nâng cao trình độ và sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên, ngăn chặn được sự sa sút, yếu kém của nhiều TCCSĐ, bước đầu cải tiến phương thức lãnh đạo và phong cách công tác.
Công tác kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kiểm tra giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên và việc xử lý kỷ luật Đảng có tiến bộ [58, tr. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nhiều mặt yếu kém và khuyết điểm: “Đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức lối sống, một số thoái hóa về chính trị; trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo của Đảng có mặt chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được làm 12 z sáng tỏ; TCCSĐ ở nhiều nơi còn yếu kém; phương thức lãnh đạo và sinh hoạt lúng túng, có tình trạng vừa kém dân chủ vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương; công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng chưa được chú trọng” [58, tr. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh nhiệm vụ cần phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của mình, khắc phục những yếu kém và tiêu cực: “Đảng phải mạnh từ TW đến cơ sở, ở tất cả các cấp, các ngành.
Trong công tác xây dựng Đảng, cần phải thường xuyên nắm vững và quán triệt các nhiệm vụ sau: giữ vững và tăng cường bản lĩnh giai cấp công nhân; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ đảng viên; kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, chuẩn bị tốt đội ngũ cán bộ kế cận; nâng cao sức chiến đấu của TCCSĐ, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [58, tr. Từ ngày 25-1 đến ngày 2-2-1999, Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII) diễn ra tại Hà Nội, thông qua Nghị quyết “Về một số vấn đề cơ ản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết đề ra 10 nhiệm vụ xây dựng Đảng, trong đó có công tác xây dựng TCCSĐ cùng các giải pháp cụ thể, đồng bộ và kiên quyết nhằm xây dựng và chỉnh đốn tổ chức đảng. Nhiều nghị quyết của TW Đảng đề ra những chủ trương, giải pháp củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
Toàn Đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) BCH TW Đảng (khóa VIII) [45, tr. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001), nhiệm vụ xây dựng Đảng càng được chú trọng hơn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng, củng cố các TCCSĐ: “Tất cả các đảng bộ, chi bộ đều phải phấn đấu thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Các cấp ủy trên phải tập trung chỉ đạo củng cố 13 z các đảng bộ, chi bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ở những nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết; Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy; Phân công, hướng dẫn, kiểm tra đảng viên chấp hành nhiệm vụ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu; giữ mối liên hệ với quần chúng ở nơi công tác, với chi bộ và nhân dân nơi cư trú; Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn; Đổi mới việc phân tích, đánh giá chất lượng các TCCSĐ và đảng viên” [45, tr. Ngày 18-3-2002, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TW Đảng (khóa IX) “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” được ban hành.
Nghị quyết đề cập đến 6 nội dung: Đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở. Đổi mới và nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở. Đổi mới công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở. Đổi mới sự chỉ đạo của cấp trên đối với cơ sở [7]. Trong mỗi nội dung, Nghị quyết đưa ra những nhiệm vụ cần thực hiện cụ thể đối với các TCCSĐ xã, phường, thị trấn. Những yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng chính là nền tảng để Đảng bộ tỉnh Bắc Giang có những định hướng xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn phù hợp với điều kiện địa phương ngay sau khi tái lập.
- Tình hình tỉnh Bắc Giang và vấn đề xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn Tại kì họp lần thứ 10 (6-11-1996), Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc ra làm 2 tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh. Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh Bắc Giang và chỉ định BCH (lâm thời) Đảng bộ tỉnh. “Tỉnh Bắc Giang chính thức đi vào hoạt động và làm việc theo đơn vị hành chính mới từ ngày 1-1- 1997” [3, tr. Như vậy, từ năm 1997, Bắc Giang bước sang giai đoạn phát triển mới, với nhiều thuận lợi và khó khăn.
14 z Về thuận lợi: Trước hết, Bắc Giang là vùng đất có truyền thống văn hiến lâu đời. “Kể từ khi có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, những truyền thống tốt đẹp của nhân dân các dân tộc Bắc Giang được phát huy mạnh mẽ và nhân lên gấp bội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Pháp, chống Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang đang bền bỉ và quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH để xây dựng quê hương ngày càng thêm giàu mạnh” [3, tr. Hai là, sau hơn 10 năm (1986 - 1996) thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh nỗ lực phấn đấu tạo nên sự phát triển mới cho nền kinh tế trong tỉnh: Nhịp độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt khá, cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực, cơ chế quản lý có chuyển biến tiến bộ.
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân trong tỉnh được cải thiện từng bước. Ba là, công tác xây dựng chính quyền, đoàn thể và TCCSĐ, trong đó có TCCSĐ xã, phường, thị trấn đạt nhiều kết quả; năng lực tổ chức chỉ đạo và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ từng bước được nâng cao. Tính đến tháng 1- 1997, tỉnh Bắc Giang có 211 đảng bộ xã, phường, thị trấn trong tổng số 740 TCCSĐ. Công tác xây dựng TCCSĐ được Đảng bộ tỉnh chỉ đạo thực hiện gắn liền với nhiệm vụ củng cố các cơ sở đảng yếu kém.
Năm 1996, số lượng TCCSĐ xã, phường, thị trấn đạt trong sạch, vững mạnh tăng, chiếm 53,3%, đồng thời số lượng TCCSĐ yếu kém giảm xuống còn 3,4% [61, tr. Trong quá trình thực hiện xây dựng TCCSĐ tại xã, phường, thị trấn, đội ngũ cán bộ của Đảng bộ có nhiều kinh nghiệm quý báu, để phát huy trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở những năm tiếp theo. Những thành tựu trên tạo nhiều điều kiện thuận lợi để Đảng bộ tỉnh Bắc Giang tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ, trong đó có nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn. 15 z Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh Bắc Giang mới tái lập cũng gặp rất nhiều khó khăn: Thứ nhất, nền kinh tế tuy có bước phát triển song ở điểm xuất phát thấp.
Cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm, công nghiệp quốc doanh địa phương nhỏ bé, năng lực thiết bị, trình độ công nghệ lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng còn thấp kém, nhiều vấn đề xã hội chưa có biện pháp giải quyết hiệu quả. Những điều kiện kinh tế này ảnh hưởng đến sự thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng tại các cấp cơ sở. Đời sống nhân dân còn khó khăn, vì thế tập trung vào phát triển kinh tế, thiếu điều kiện để tham gia xây dựng TCCSĐ, nhất là TCCSĐ cấp xã, phường, thị trấn ở địa phương mình. Thứ hai, Bắc Giang mới được tái lập chính thức từ ngày 1-1-1997, các cơ quan lãnh đạo được kiện toàn, song sự hoạt động của bộ máy chính quyền còn chưa thực sự đi vào “guồng”.