Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa với đề tài "Quản lý tranh cổ động chính trị trong bối cảnh hiện nay", mã số 9319042, do nghiên cứu sinh Triệu Minh Lâm thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Bộ Giáo dục và Đào tạo), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Nghị và PGS. Cao Đức Hải, bảo vệ năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ở Việt Nam, tranh cổ động là loại hình nghệ thuật cổ động trực quan gắn liền với các giai đoạn cách mạng, đóng vai trò là công cụ tuyên truyền quan trọng của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tranh cổ động chính trị không chỉ là tác phẩm nghệ thuật đồ họa thuần túy mà còn chuyển tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại cùng sự vận hành của cơ chế kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu mới đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và tranh cổ động chính trị nói riêng. Dòng tranh cổ động chính trị đang chịu sự cạnh tranh và lấn át bởi các hình thức quảng cáo thương mại ngoài trời; đồng thời, các biến đổi phức tạp trên mặt trận tư tưởng, văn hóa đòi hỏi phải củng cố và đổi mới hoạt động quản lý.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về tranh cổ động dưới góc độ lịch sử mỹ thuật, văn hóa học hoặc kỹ thuật đồ họa, nhưng việc tiếp cận loại hình này từ góc độ khoa học quản lý văn hóa (quản lý nhà nước) nhằm đánh giá thực trạng thể chế, bộ máy, hoạt động sáng tác, phổ biến và kiểm tra, giám sát vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện và có hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng quản lý tranh cổ động chính trị ở Việt Nam, luận án đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tranh cổ động chính trị trong bối cảnh hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý tranh cổ động chính trị.
- Làm rõ thực trạng quản lý tranh cổ động chính trị ở Việt Nam thời gian qua.
- Phân tích những vấn đề đặt ra trong bối cảnh xã hội hiện nay đối với tranh cổ động chính trị.
- Xác định các định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tranh cổ động chính trị trong bối cảnh hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Tiếp cận từ quản lý nhà nước, các cấp quản lý nhà nước đã thực hiện vai trò của mình như thế nào trong hoạt động quản lý tranh cổ động chính trị ở Việt Nam?
- Bối cảnh xã hội hiện nay có tác động như thế nào đối với hoạt động quản lý tranh cổ động chính trị?
- Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng quản lý tranh cổ động chính trị?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Quản lý nhà nước đối với tranh cổ động chính trị đòi hỏi phải có hệ thống tổ chức quản lý, nguồn lực thực thi và quy trình các hoạt động quản lý chuyên biệt (tổ chức sáng tác, tuyển chọn, trưng bày, phổ biến, thanh tra, kiểm tra và giám sát).
- Bối cảnh chính trị với các nhiệm vụ mới trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa đặt ra yêu cầu phải tăng cường vai trò của tranh cổ động chính trị.
- Bối cảnh văn hóa, xã hội, sự xuất hiện của các loại hình nghệ thuật mới và công nghệ thông tin tạo ra những tác động đa chiều (thuận chiều và nghịch chiều) đến việc phát huy giá trị của tranh cổ động chính trị.
- Để nâng cao chất lượng quản lý, cần đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế, củng cố tổ chức bộ máy, đầu tư nguồn lực và thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với các chủ thể xã hội liên quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý tranh cổ động chính trị trong bối cảnh hiện nay, tiếp cận từ khía cạnh quản lý nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động quản lý đối với loại hình tranh cổ động chính trị dưới góc độ quản lý văn hóa; đánh giá tính mỹ thuật và nội dung dựa trên hệ thống các tác phẩm tranh cổ động chính trị đã và đang được cơ quan có thẩm quyền công bố, trưng bày, giới thiệu trong thời gian gần đây.
- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu trọng tâm là thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, nơi đặt trụ sở các cơ quan quản lý đầu ngành (Cục Văn hóa cơ sở, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Hội Mỹ thuật Việt Nam), nơi tập trung nhiều trường đào tạo mỹ thuật và đội ngũ họa sĩ đông đảo. Nghiên cứu khảo sát tại 12 quận: Ba Đình, Bắc Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Thanh Xuân. Đồng thời, tác giả kết hợp khảo sát tư liệu đối chứng tại một số địa phương: Tuyên Quang, Gia Lai, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa.
- Về thời gian: Tập trung khảo sát giai đoạn 2015–2020 (tương ứng với giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hà Nội lần thứ XVI).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích, hệ thống hóa nguồn tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tranh cổ động, truyền thông thị giác và quản lý văn hóa:
Các hướng nghiên cứu ở nước ngoài
- Lý thuyết tuyên truyền và truyền thông thị giác: Công trình kinh điển Political propaganda (1942) của Frederic Charles Bartlett; nghiên cứu The Theory of Political Propaganda của Harold D. Lasswell trên Tạp chí Khoa học Chính trị Hoa Kỳ; tác phẩm Propaganda của Edward Bernays phân tích vai trò của truyền thông và kỹ thuật định hướng dư luận xã hội thông qua các biểu tượng thị giác.
- Bộ sưu tập và lịch sử tranh áp phích chính trị: Cuốn sách Political posters in central and Eastern Europe 1945-1995: Signs of the times của James Aulich và Marta Sylvestrova; tác phẩm Make art not war (1996) của Ralph Young khảo cứu các áp phích phản chiến thế kỷ XX; công trình Off the wall: Political Posters of the Lebanese (2016) của Zena Maasri phân tích tranh áp phích chính trị trong xung đột tại Lebanon; sách Image Politics in the Middle East: The role of the visual in Political Struggle của Lina Khatib nghiên cứu văn hóa thị giác tại Ai Cập, Tunisia và Trung Đông.
- Nghiên cứu biểu tượng và sự tiếp nhận của công chúng: Dean Ashton (2010) khi nghiên cứu áp phích tuyên truyền thời kỳ Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc đã chỉ ra khái niệm "thế giới biểu tượng của văn bản thị giác" (symbolic worlds of the visual text); Calhoun (2014) và Murray Edelman (1995) phân tích việc nhìn - xem như một thực hành văn hóa mang tính chủ quan (seeing as subjective cultural practice) và quá trình tái chế văn hóa (re-associative process cultural recycling) trong tranh cổ động Liên Xô; Steven Heller (1995) trong Masters of Polish Poster Art đánh giá cao phong cách đồ họa cá nhân độc lập của Ba Lan thời kỳ xã hội chủ nghĩa.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu về lý luận công tác tư tưởng và thông tin cổ động: Cuốn sách Công tác thông tin - cổ động - triển lãm (1988) do Nguyễn Hữu Tòng chủ biên; Nguyên lý công tác tư tưởng (2002) của Đào Duy Quát và Lương Khắc Hiếu phân tích quy trình tâm lý tiếp nhận từ tri giác, nhận thức, niềm tin đến hành động; giáo trình Thông tin cổ động (2011) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành; tài liệu Tăng cường công tác thông tin và cổ động (2009) của Tổng cục Thông tin.
- Nghiên cứu về quản lý văn hóa: Tác phẩm Văn hóa và phát triển từ lý luận đến thực tiễn của Phạm Duy Đức; Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế (2014) của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn; công trình Chiến lược phát triển văn hóa đến 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020 (2006) của Nguyễn Chí Bền, Lưu Trần Tiêu, Phan Hồng Giang.
- Sưu tầm, khảo cứu lịch sử mỹ thuật và phân loại chủ đề tranh cổ động: Cuốn Tranh cổ động Việt Nam (1945-2000) (2001) do Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở phát hành tuyển chọn 425 tác phẩm của trên 200 tác giả; Sưu tập tranh cổ động ở Bảo tàng Quân đội (2002) của Nguyễn Bằng Lâm, Hoàng Lâm, Trần Thanh Hằng (249 bức thuộc 8 chủ đề); Tác phẩm tranh cổ động (2003) của Trần Lâm; Những tác phẩm quan trọng và vô giá của hội họa Việt Nam hiện đại (2010) của Phan Cẩm Thượng và Nguyễn Anh Tuấn; các nghiên cứu của Lê Thúy Hoàn (2014), Trần Văn Đức (2016), Vũ Huy Thông (2012), Đặng Thị Phong Lan (2017), Phạm Phương Linh (2014).
- Nghiên cứu về thực trạng và tác động của kinh tế thị trường: Bài viết của Lê Quốc Bảo (2003) về sự lấn át của quảng cáo thương mại; bài viết của Triệu Minh Lâm (2018) về giá trị tranh cổ động chính trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; luận án tiến sĩ của Hoàng Minh Của về nghệ thuật tranh quảng cáo ngoài trời tại Hà Nội từ 1986 đến nay.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu phân tích tranh cổ động ở khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật, giá trị lịch sử hoặc nghiệp vụ thông tin cổ động thuần túy. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình quản lý hoạt động sáng tác, thẩm định, triển lãm, phổ biến và kiểm tra giám sát tranh cổ động chính trị từ lý thuyết và thực tiễn của chuyên ngành Quản lý văn hóa. Luận án khắc phục khoảng trống này bằng việc xây dựng khung phân tích quản lý nhà nước đối với tranh cổ động chính trị trong giai đoạn 2015–2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm cơ bản
- Cổ động (Agitatio / Affiche / Propaganda): Giải thích, thông tin tập trung vào một sự kiện, sự việc cụ thể, thiết thực nhằm tạo ấn tượng mạnh, thúc đẩy hành động của số đông người theo mục đích nhất định.
- Tranh cổ động (Propaganda poster): Theo Quyết định số 02/2007/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2007 của Bộ Văn hóa - Thông tin, tranh cổ động là tranh đồ họa, sử dụng màu sắc, đường nét và chữ nhằm định hướng nhận thức, suy nghĩ và hành động của mọi người đối với sự kiện, hoạt động xã hội xảy ra trong một thời điểm nhất định.
- Tranh cổ động chính trị: Thể loại tranh đồ họa kết hợp ngôn ngữ tạo hình và khẩu hiệu nhằm tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, định hướng nhận thức và hành động của xã hội phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử.
- Quản lý nhà nước về tranh cổ động chính trị: Sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước (thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, bộ máy hành chính và nguồn lực) lên các khâu: sáng tác, đánh giá/thẩm định, phổ biến, sử dụng, bảo quản, lưu trữ, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm liên quan đến tranh cổ động chính trị.
- Khung nội dung quản lý nhà nước:
- Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, quy chế quản lý (như Nghị định số 113/2013/NĐ-CP ngày 20/02/2013 của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật, Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả).
- Huy động, phân bổ các nguồn lực để tổ chức sáng tác, phát động cuộc thi, chấm giải, duyệt mẫu, nhân bản, trưng bày triển lãm và phổ biến rộng rãi.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (xuyên tạc nội dung, vi phạm bản quyền tác giả, hình ảnh phản cảm).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp điền dã: Khảo sát trực tiếp các cụm thông tin cổ động trực quan trên các tuyến phố, quảng trường tại Hà Nội và một số tỉnh (Tuyên Quang, Gia Lai, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa); quan sát cách bố trí không gian, chất lượng in ấn, treo dựng tranh; phỏng vấn sâu cán bộ quản lý văn hóa và các họa sĩ sáng tác.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Đảng, báo cáo tổng kết định kỳ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Văn hóa cơ sở, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội giai đoạn 2015–2020.
- Phương pháp thống kê - so sánh: Xử lý dữ liệu định lượng, so sánh thực trạng sử dụng, hiệu quả tuyên truyền và các khâu quản lý giữa các thời kỳ và địa bàn.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Tiến hành khảo sát trên địa bàn 12 quận thuộc thành phố Hà Nội với quy mô tổng mẫu là $N = 500$ phiếu, chia thành 3 nhóm đối tượng:
| Nhóm đối tượng | Quy mô mẫu | Phương pháp chọn mẫu | Địa bàn khảo sát |
|---|---|---|---|
| Công chúng | 300 | Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản | 12 quận thuộc TP. Hà Nội: Ba Đình, Bắc Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Thanh Xuân |
| Cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở | 100 | Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống | Các phòng Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Văn hóa thuộc các quận tại Hà Nội |
| Họa sĩ sáng tác tranh cổ động | 100 | Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống | Hội đồng nghệ thuật, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, giảng viên các trường mỹ thuật tại Hà Nội |
Cơ cấu nhân khẩu học của mẫu khảo sát 500 đối tượng được tác giả thống kê như sau:
| Tiêu chí | Phân nhóm | Số lượng (người) | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| Độ tuổi | Dưới 18 tuổi | 64 | 12,8 |
| Từ 19 đến 30 tuổi | 146 | 29,2 | |
| Từ 31 đến 55 tuổi | 191 | 38,2 | |
| Trên 55 tuổi | 99 | 19,8 | |
| Giới tính | Nam | 256 | 52,0 |
| Nữ | 244 | 48,0 | |
| Nghề nghiệp | Học sinh, sinh viên | 55 | 11,0 |
| Cán bộ, công nhân, viên chức | 100 | 20,0 | |
| Họa sĩ sáng tác tranh cổ động | 100 | 20,0 | |
| Kinh doanh buôn bán | 58 | 11,6 | |
| Nông nghiệp và nghề phụ | 69 | 13,8 | |
| Lao động tự do | 68 | 13,6 | |
| Nghỉ hưu | 50 | 10,0 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về tranh cổ động chính trị
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết, lược khảo lịch sử hình thành và phát triển của tranh cổ động chính trị trên thế giới và tại Việt Nam:
- Khái quát lịch sử thế giới:
- Tại Pháp: Khởi nguồn từ phong trào cổ động cách mạng tư sản (Lui Đavit, Đờlacroa với Thần tự do trên chiến lũy) đến Jules Cheret (Vũ hội Valentino năm 1869, sáng tác hơn 10.000 quảng cáo), A. Guillaume.
- Tại Anh và Đức: Tranh áp phích phát triển từ quảng cáo đường sắt tại Anh đến các thử nghiệm ngôn ngữ thị giác, nghệ thuật sắp đặt chữ và mảng phẳng ước lệ của trường phái Bauhaus tại Đức.
- Tại các nước Xã hội chủ nghĩa: Liên Xô ghi dấu ấn của Mai-a-cốpxki trong Cách mạng Tháng Mười và Chiến tranh Vệ quốc; Ba Lan hình thành trường phái đồ họa nổi tiếng từ sau 1945, thành lập bảo tàng tranh cổ động đầu tiên tại Warsaw (1968); Cuba phát triển rực rỡ giai đoạn 1959–1980; Trung Quốc phát triển mạnh từ Hội đàm văn nghệ Diễn An (1942) với các nguyên tắc tạo hình thời Cách mạng Văn hóa như "đỏ, sáng, rõ", "cao, lớn, toàn" và nguyên tắc "ba nổi bật".
- Lịch sử tranh cổ động chính trị Việt Nam:
- Giai đoạn trước và trong Cách mạng Tháng Tám 1945: Khởi nguồn từ tác phẩm Việt Nam độc lập thổi kèn loa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1941) trên báo Độc Lập; các tác phẩm của thế hệ họa sĩ Tô Ngọc Vân (Phá xiềng, Việt Nam giải phóng, Hà Nội vùng đứng lên), Trần Văn Cẩn (Nước Việt Nam của người Việt Nam, Xuống đường), Lương Xuân Nhị (Lửa), Phạm Văn Đôn (Tổng khởi nghĩa), Nguyễn Đỗ Cung, Sĩ Ngọc.
- Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946–1954): Văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến, chuyển hóa tranh cổ động thành vũ khí tư tưởng (Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân...).
- Đặc điểm nghệ thuật và nguyên tắc tạo hình: Tranh cổ động chính trị đòi hỏi tính khái quát cao, sử dụng mảng màu phẳng, hình khối lớn, tương phản rõ rệt, đường nét dứt khoát, kết hợp chặt chẽ giữa hình tượng chính - phụ và khẩu hiệu, tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc bố cục trực quan để truyền tải thông điệp nhanh, rõ ràng từ khoảng cách xa.
Chương 2: Thực trạng quản lý tranh cổ động chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2015-2020
Chương này tập trung khảo sát, phân tích số liệu thực tế về công tác quản lý nhà nước đối với tranh cổ động chính trị, lấy địa bàn trọng điểm là thành phố Hà Nội:
- Chính sách và hệ thống thể chế: Phân tích việc áp dụng các văn bản quản lý như Luật Quảng cáo, Luật Thi đua Khen thưởng, Nghị định số 113/2013/NĐ-CP về hoạt động mỹ thuật, Quyết định số 02/2007/QĐ-BVHTT; chỉ ra những điểm còn thiếu đồng bộ trong hướng dẫn định mức kinh phí, nhuận bút sáng tác và quy chuẩn vị trí lắp đặt cụm cổ động tấm lớn.
- Tổ chức bộ máy quản lý: Đánh giá mô hình vận hành từ Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VHTT&DL) đến Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, các phòng Văn hóa - Thông tin và Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao cấp quận/huyện; chỉ ra sự chồng chéo hoặc khoảng trống trách nhiệm giữa các đơn vị quản lý mỹ thuật và quản lý thông tin tuyên truyền.
- Quy trình hoạt động quản lý: Đánh giá các khâu: xây dựng chủ đề phục vụ ngày lễ lớn và sự kiện chính trị; tổ chức các cuộc thi sáng tác toàn quốc; công tác thẩm định của Hội đồng nghệ thuật; phát hành đĩa CD mẫu tranh; in ấn, phóng to và dàn dựng trên các trục giao thông chính, cửa ngõ thủ đô; đánh giá các nguồn cung cấp tranh cổ động tại địa phương (nguồn do Cục Văn hóa cơ sở cấp, do Sở VHTT Hà Nội tổ chức thi hoặc do cơ sở tự biên tập).
- Thanh tra, kiểm tra và giám sát: Khảo sát công tác thanh tra liên ngành; xử lý hiện tượng tranh bị xuống cấp, rách nát do thời tiết không được thay thế kịp thời, tranh in sai màu hoặc sai sót về chi tiết trang phục, biểu tượng; kiểm tra vi phạm bản quyền tác giả trong các cuộc thi sáng tác.
- Đánh giá chung qua điều tra xã hội học:
- Khẳng định vai trò tích cực của tranh cổ động trong việc tuyên truyền các chủ trương lớn, tạo diện mạo khang trang cho đô thị trong các dịp kỷ niệm lịch sử, đại hội Đảng.
- Phân tích hạn chế từ góc nhìn của 300 người dân, 100 cán bộ văn hóa và 100 họa sĩ: hiện tượng trùng lặp về môtip tạo hình (hình ảnh công nông binh, bánh răng, bông lúa lặp lại đơn điệu); tính hấp dẫn chưa cao đối với giới trẻ; chế độ thù lao và giải thưởng cho họa sĩ còn thấp dẫn đến việc hạn chế thu hút các tác giả trẻ tham gia; công tác bảo quản, lưu trữ tư liệu tranh cổ động qua các thời kỳ chưa được đầu tư bài bản.
Chương 3: Bối cảnh xã hội, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tranh cổ động chính trị ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích bối cảnh xã hội tác động:
- Tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự bùng nổ của quảng cáo thương mại ngoài trời làm thu hẹp không gian dành cho tranh cổ động chính trị.
- Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phổ biến của công nghệ số, mạng xã hội, màn hình LED điện tử đòi hỏi tranh cổ động phải chuyển đổi từ dạng tĩnh sang đồ họa động (motion graphics) và truyền thông đa nền tảng.
- Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
- Định hướng quản lý:
- Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.
- Kết hợp hài hòa giữa yêu cầu tuyên truyền chính trị với việc nâng cao giá trị thẩm mỹ nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng hiện đại.
- Từng bước chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa quy trình tuyển chọn, thẩm định, cấp phép, lắp dựng và bảo quản tranh.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Sửa đổi, bổ sung quy chế thi sáng tác và sử dụng tranh cổ động; xây dựng khung quy định về nhuận bút, bản quyền tác giả phù hợp với giá trị thị trường; ban hành quy hoạch mạng lưới các điểm tuyên truyền cổ động trực quan cố định tại các đô thị.
- Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý văn hóa cơ sở; nâng cao năng lực thẩm định của các Hội đồng nghệ thuật; tăng cường đào tạo chuyên ngành đồ họa tranh cổ động tại các trường đại học mỹ thuật.
- Nhóm giải pháp về đầu tư nguồn lực: Tăng cường ngân sách nhà nước cho các đợt sáng tác lớn; khuyến khích xã hội hóa hợp pháp trong việc xây dựng khung pano, bảng điện tử phục vụ tuyên truyền nhiệm vụ chính trị kết hợp quảng cáo thương mại theo tỷ lệ quy định.
- Nhóm giải pháp đổi mới phương thức sáng tác và phổ biến: Đa dạng hóa hình thức tổ chức thi (thi mở rộng, đặt hàng họa sĩ có tên tuổi); ứng dụng công nghệ số trong thiết kế và trình chiếu trên màn hình LED công cộng, mạng Internet; đẩy mạnh công tác trưng bày triển lãm lưu động tại các trường học, khu công nghiệp và vùng sâu, vùng xa.
- Nhóm giải pháp thanh tra, kiểm tra: Thiết lập cơ chế giám sát thường xuyên giữa cơ quan quản lý nhà nước với chính quyền cơ sở; kiên quyết gỡ bỏ các tác phẩm vi phạm, xuống cấp; xử lý nghiêm hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án tiếp cận tranh cổ động chính trị từ góc độ khoa học quản lý văn hóa, mở rộng hướng tiếp cận truyền thống vốn chỉ giới hạn trong lịch sử mỹ thuật hoặc văn hóa học.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với tranh cổ động chính trị; làm rõ các yếu tố cấu trúc nội dung quản lý (hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực, thanh tra - kiểm tra) và các đặc thù của hoạt động sáng tác, thẩm định, phổ biến loại hình nghệ thuật này trong nền kinh tế thị trường.
- Xây dựng khung phân tích khoa học đánh giá mối quan hệ giữa chức năng tư tưởng chính trị, giá trị thẩm mỹ nghệ thuật và hiệu quả quản lý nhà nước.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và số liệu thực chứng về thực trạng quản lý tranh cổ động chính trị tại Việt Nam (trọng tâm là Hà Nội) giai đoạn 2015–2020 thông qua kết quả khảo sát 500 mẫu phiếu điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên sâu.
- Phát hiện và chỉ rõ các vướng mắc, bất cập trong cơ chế chính sách, định mức kinh phí, quy trình thẩm định, công tác bảo hộ bản quyền và bảo đảm mỹ quan đô thị.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính khả thi, làm cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Văn hóa cơ sở, Sở Văn hóa và Thể thao các địa phương) hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý tuyên truyền trực quan trong thời kỳ mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát sâu tại địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2015–2020; các địa phương ngoài Hà Nội (Tuyên Quang, Gia Lai, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa) chủ yếu đóng vai trò đối chứng, chưa thể bao quát toàn diện đặc thù quản lý của tất cả 63 tỉnh/thành phố trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo (sau năm 2020), đánh giá sâu hơn tác động của chuyển đổi số và truyền thông đa phương tiện đối với việc phổ biến tranh cổ động chính trị.
- Khảo sát so sánh chuyên sâu mô hình quản lý tranh cổ động chính trị giữa các vùng đô thị lớn và khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Cục Văn hóa cơ sở, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, các Sở Văn hóa và Thể thao, Phòng Văn hóa - Thông tin các quận/huyện có thể tham khảo phần phân tích thực trạng và hệ thống giải pháp để điều chỉnh quy chế thi sáng tác, định mức chi trả nhuận bút, quy hoạch không gian cổ động trực quan và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Quản lý văn hóa, Mỹ thuật ứng dụng, Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Công tác tư tưởng tại các cơ sở đào tạo như Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Đối với giới họa sĩ sáng tác: Cung cấp thông tin về yêu cầu nội dung tư tưởng, quy chuẩn thẩm mỹ và quy trình tuyển chọn, giúp các tác giả nắm bắt rõ định hướng của cơ quan quản lý khi tham gia sáng tác phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định tác phẩm nào mở đầu cho dòng tranh cổ động chính trị cách mạng Việt Nam?
Theo tổng thuật của luận án, tác phẩm khởi nguồn cho tranh cổ động chính trị Việt Nam là bức Việt Nam độc lập thổi kèn loa do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác và đăng trên báo Độc Lập năm 1941. Bức tranh khắc họa hình ảnh người đội nón lá cầm loa bước đi mạnh mẽ, được tạo hình mộc mạc từ chính các con chữ "Việt Nam độc lập", mang ý nghĩa hiệu triệu toàn dân đoàn kết đứng lên cứu nước.
2. Mẫu điều tra xã hội học của luận án được thiết kế với quy mô và cơ cấu ra sao?
Luận án thực hiện điều tra bằng phiếu hỏi với tổng quy mô $N = 500$ mẫu trên địa bàn 12 quận tại thành phố Hà Nội. Mẫu được phân bổ cho 3 nhóm đối tượng: 300 công chúng (chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản), 100 cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở (chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống) và 100 họa sĩ sáng tác tranh cổ động (chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống). Cơ cấu mẫu gồm 52% nam, 48% nữ; độ tuổi từ 31–55 chiếm tỷ lệ cao nhất (38,2%).
3. Những văn bản quy phạm pháp luật then chốt nào được luận án sử dụng làm căn cứ phân tích quản lý nhà nước?
Các văn bản pháp lý chủ yếu gồm: Quyết định số 02/2007/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2007 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quy chế tổ chức thi sáng tác tranh cổ động và sử dụng tranh cổ động để tuyên truyền; Nghị định số 113/2013/NĐ-CP ngày 20/02/2013 của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật; Luật Quảng cáo; cùng các quy định quốc tế về bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne.
4. Nội dung quản lý nhà nước đối với tranh cổ động chính trị gồm những trụ cột nào?
Luận án xác định 3 nội dung quản lý cơ bản:
- Ban hành và hướng dẫn thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy chế, tiêu chuẩn kỹ thuật về tranh cổ động chính trị.
- Tổ chức thực hiện, phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội để phát động sáng tác, sưu tầm, lưu trữ, thẩm định, triển lãm và phổ biến tác phẩm.
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (xâm phạm bản quyền, xuyên tạc nội dung, hình ảnh phản cảm).
5. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu quả quản lý trong bối cảnh mới?
Các giải pháp trọng tâm gồm: hoàn thiện thể chế và chính sách nhuận bút, bản quyền; quy hoạch mạng lưới bảng tuyên truyền cổ động cố định; đổi mới hình thức tổ chức sáng tác (kết hợp thi tuyển rộng rãi với đặt hàng chuyên gia); ứng dụng công nghệ thông tin và màn hình LED kỹ thuật số; bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ văn hóa cơ sở và tăng cường công tác thanh tra, giám sát chất lượng trực quan đô thị.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Triệu Minh Lâm là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tranh cổ động chính trị tại Việt Nam dưới góc độ khoa học Quản lý văn hóa. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý giai đoạn 2015–2020 tại địa bàn trọng điểm Hà Nội bằng phương pháp hỗn hợp, chỉ ra những thành tựu đạt được cũng như các bất cập về thể chế, nguồn lực và phương thức phổ biến. Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế thị trường và sự phát triển của công nghệ truyền thông, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, góp phần phát huy giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tranh cổ động chính trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.