Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam

Giáo trình Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam - TS. Dương Văn Sáu (ĐH Văn hóa Hà Nội)

Giáo trình Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam của TS. Dương Văn Sáu cung cấp kiến thức nền tảng về di sản, phục vụ nghiên cứu và đào tạo du lịch.

Chuyên ngành

Du lịch

Tác giả

Dương Văn Sáu

Thể loại

Giáo trình

2017

390
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam

Giáo trình Di tích lịch sử - văn hóa và Danh thắng Việt Nam do TS. Dương Văn Sáu biên soạn là tài liệu học thuật chuẩn mực dành cho sinh viên ngành Du lịch tại các trường đại học và cao đẳng. Xuất bản lần đầu năm 2009 và tái bản có chỉnh sửa bổ sung năm 2017 bởi Nhà xuất bản Lao động, giáo trình thể hiện công trình nghiên cứu nghiêm túc về kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Việt Nam là quốc gia có bề dày lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ lịch sử đó, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa được hình thành phong phú và đa dạng trên khắp mọi miền đất nước. Hệ thống di tích này đóng vai trò là "linh hồn" trong đời sống tinh thần và vật chất của toàn xã hội. Giáo trình được cấu trúc thành 5 chương chính, bao gồm: những vấn đề chung, di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh. Mỗi chương cung cấp kiến thức nền tảng từ lý thuyết đến thực tiễn. Đây là nền tảng không thể thiếu cho những ai nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực du lịch văn hóa Việt Nam.

1.1. Bối cảnh ra đời và mục tiêu của giáo trình

Giáo trình được TS. Dương Văn Sáu biên soạn từ năm 2009 tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Mục tiêu cốt lõi là cung cấp kiến thức cơ sở về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành Du lịch. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, di sản văn hóa ngày càng trở thành tài nguyên du lịch quan trọng. Giáo trình lấp đầy khoảng trống trong đào tạo học thuật, giúp người học nắm vững kiến thức liên ngành gồm lịch sử, khảo cổ học, kiến trúc, nghệ thuật học và tôn giáo tín ngưỡng.

1.2. Đối tượng sử dụng và phạm vi ứng dụng

Giáo trình hướng tới sinh viên đại học và cao đẳng ngành Du lịch. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa, hướng dẫn viên du lịch và cán bộ quản lý di sản cũng có thể khai thác tài liệu này hiệu quả. Phạm vi ứng dụng trải rộng từ hoạt động giảng dạy học thuật đến thực tiễn xây dựng điểm đến và tuyến du lịch văn hóa trên toàn quốc. Đặc biệt, tài liệu phục vụ trực tiếp cho loại hình du lịch văn hóa - một trong những loại hình du lịch căn bản và quan trọng nhất của ngành du lịch Việt Nam hiện nay.

II. Hệ thống phân loại di tích lịch sử văn hóa Việt Nam

Theo Luật Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh được phân thành bốn loại hình chính. Thứ nhất là di tích khảo cổ. Thứ hai là di tích lịch sử. Thứ ba là di tích kiến trúc nghệ thuật. Thứ tư là danh lam thắng cảnh. Mỗi loại hình mang đặc trưng riêng biệt về nguồn gốc hình thành, giá trị nội tại và phương thức bảo tồn. Hệ thống này được hình thành trong suốt tiến trình kiến tạo tự nhiên và chiều sâu văn hiến của lịch sử phát triển dân tộc. Các di tích chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên và nỗ lực xây dựng của nhiều thế hệ người Việt Nam. Toàn bộ hệ thống phân bố rộng khắp mọi miền đất nước. Đây thực sự là một "bức tranh văn hóa" toàn cảnh chứa đựng hồn thiêng dân tộc. Hiểu rõ cách phân loại này giúp người học tiếp cận từng nhóm di tích một cách có hệ thống và khoa học, từ đó xây dựng được chiến lược khai thác và bảo tồn phù hợp cho từng loại.

2.1. Di tích vật thể và hệ thống bảo vật quốc gia

Di sản văn hóa vật thể bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận bảo vật quốc gia sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia. Tính đến nay, đã có 4 đợt ký công nhận bảo vật quốc gia với tổng số 104 bảo vật tiêu biểu. Ví dụ điển hình là trống đồng Ngọc Lũ - đỉnh cao của nền văn minh Đông Sơn. Các bảo vật này thể hiện tài năng sáng tạo và bản sắc văn hóa đặc trưng của người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

2.2. Di sản văn hóa phi vật thể và tiếng nói dân tộc

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và các hình thức trình diễn khác. Di sản này bao gồm tiếng nói, chữ viết, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn, tập quán xã hội, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian. Tiếng nói là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa, phản ánh đặc trưng cơ bản của tộc người. Đây là tài sản tinh thần vô giá cần được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống đương đại.

III. Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận di tích trong giáo trình

TS. Dương Văn Sáu đề xuất phương pháp tiếp cận liên ngành khi nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa. Để hiểu đúng và đầy đủ về các di tích, cần kết hợp nhiều chuyên ngành khoa học. Kiến thức văn hóa - lịch sử cung cấp bối cảnh hình thành. Khảo cổ học giúp xác định niên đại và nguồn gốc. Hán Nôm hỗ trợ giải mã tài liệu văn tự cổ. Kiến trúc và nghệ thuật học phân tích giá trị thẩm mỹ. Tôn giáo và tín ngưỡng làm rõ ý nghĩa tâm linh. Toàn bộ những lĩnh vực này thuộc về Nhân học - khoa học về con người trong suốt chiều dài lịch sử. Phương pháp nghiên cứu trong giáo trình còn chú trọng khai thác di vật, cổ vật, thư tịch hiện tồn trong di tích. Đồng thời kết hợp với thông tin lưu truyền trong nhân dân qua nhiều thế hệ. Sự kết hợp giữa tư liệu thành văn và truyền khẩu tạo nên bức tranh toàn diện về di tích. Phương pháp này đặt nền tảng khoa học vững chắc cho hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản tại Việt Nam.

3.1. Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu di sản văn hóa

Nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa không thể dừng lại ở một chuyên ngành đơn lẻ. Phương pháp liên ngành đòi hỏi sự phối hợp giữa sử học, khảo cổ học, dân tộc học, kiến trúc học và nghệ thuật học. Mỗi chuyên ngành soi rọi di tích từ một góc độ khác nhau. Tổng hợp nhiều góc nhìn giúp nhận diện đầy đủ giá trị của di tích. Giáo trình của TS. Dương Văn Sáu áp dụng triệt để phương pháp này, tạo ra một khung lý thuyết chặt chẽ và có tính ứng dụng cao trong đào tạo nhân lực du lịch văn hóa chuyên nghiệp.

3.2. Khai thác tư liệu và thông tin dân gian về di tích

Nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu di tích gồm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là tư liệu vật chất gồm di vật, cổ vật, thư tịch đang hiện tồn trong và xung quanh di tích. Nhóm thứ hai là tư liệu phi vật chất gồm các câu chuyện, truyền thuyết, phong tục gắn với di tích được lưu truyền trong cộng đồng dân cư địa phương. Việc kết hợp cả hai nguồn tư liệu tạo ra cái nhìn lịch đại và đồng đại. Phương pháp điền dã kết hợp với nghiên cứu thư viện là yêu cầu thiết yếu trong nghiên cứu di sản văn hóa theo cách tiếp cận của giáo trình này.

IV. Vai trò của giáo trình trong đào tạo du lịch văn hóa

Giáo trình Di tích lịch sử - văn hóa và Danh thắng Việt Nam của TS. Dương Văn Sáu khẳng định vai trò không thể thay thế trong chương trình đào tạo nhân lực du lịch chuyên nghiệp tại Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhu cầu có đội ngũ hướng dẫn viên và chuyên viên am hiểu di sản ngày càng cấp thiết. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa không chỉ là tài sản của quá khứ. Chúng đã và đang trở thành tài nguyên, nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế du lịch. Du lịch văn hóa - loại hình khai thác giá trị di sản - là một trong những loại hình du lịch căn bản nhất của Việt Nam hiện nay. Giáo trình cung cấp nền tảng lý luận giúp sinh viên xây dựng được các điểm đến và tuyến du lịch hấp dẫn, có chiều sâu văn hóa. Đây là công cụ để thế hệ trẻ tiếp nối sứ mệnh gìn giữ và phát huy kho tàng di sản mà cha ông đã dày công xây dựng và trao truyền. Từ lý thuyết đến thực hành, giáo trình là cầu nối quan trọng giữa học thuật và nghề nghiệp.

4.1. Đóng góp cho phát triển du lịch văn hóa bền vững

Du lịch văn hóa dựa trên khai thác có trách nhiệm giá trị di sản lịch sử. Giáo trình trang bị cho người học nhận thức đúng về việc khai thác di tích phải đi đôi với bảo tồn. Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ di sản. Kiến thức trong giáo trình giúp các nhà quản lý và hướng dẫn viên đưa ra quyết định có trách nhiệm. Từ đó, ngành du lịch văn hóa Việt Nam có thể phát triển lâu dài mà không làm tổn hại đến giá trị cốt lõi của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa quý báu.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong xây dựng sản phẩm du lịch

Kiến thức từ giáo trình được áp dụng trực tiếp vào việc xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc. Hướng dẫn viên nắm vững nội dung giáo trình có khả năng thuyết minh sâu sắc và sinh động về từng di tích. Nhà thiết kế tour có thể tạo ra các tuyến du lịch kết hợp hài hòa nhiều loại hình di tích. Cơ quan quản lý nhà nước sử dụng kiến thức này để lập quy hoạch bảo tồn và phát triển di sản hiệu quả. Giáo trình thực sự là tài liệu nền tảng để chuyên nghiệp hóa toàn bộ chuỗi giá trị của ngành du lịch văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/10/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I T R I/Ờ N G Đ a i h O C h'A LŨ U C 1. DI SẢN VĂN HÓA VIỆT - £ PH O N G ỈVU. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm văn hóa, văn minh Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường nghe và sử dụng nhiều tới các thuật ngữ di sản, văn hóa, di sản văn hóa, bản sắc văn hóa.

Vậy nên hiểu các thuật ngữ này ra sao? Chúng có vai trò tác động gì, ảnh hưởng như thế nào trong đòi sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước chúng ta hôm nay? Đây là những nội dung quan trọng của cuộc sống; đ ể trả lòi những câu hỏi này, nhiều tác giả qua những tác phẩm, những công trình nghiên cứu của m ình đã đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau: Sinh thòi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nghiên cứu về ván hóa, Người viết rằng: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ tihŨTig sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa"1. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt N am - Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn N hư Ý chủ biên, Nxb Văn hóa - Thông tin xuất bản 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật châi, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"2. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nxb Đỳ Nang 1Hồ Chi Minh toàn tập, NXB Chính tri Quốc gia, H.

2 Nguyễn Như Ý (chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin. 17 và trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra m ột loạt quan niệm về văn hóa: - Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tình thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; - Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tính thần (nói tổng quát); - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); - Văn hóa là trình độ cao ữong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; - Văn hóa còn là cụm từ để chi một nền văn hóa của m ột thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn3. Điều đó có thể hiểu rằng: "Sau tất cả những gì đã qua đi, cái còn lại chính là văn hóa". Nếu nói như thế, có thể hiểu văn hóa là cái còn tồn tại qua thời gian, văn hóa là những gì bền vững qua những biến thiên thăng trầm của lịch sử.

Trong cuốn Xã hội học Văn hóa, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: it - ÊJÍ 'P ÍE : Văn hóa - vồ sở bất tại"4: văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên J Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điẻn học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Năng 2004, trang 1100. 4 Đoàn Văn Chúc: xa hội học Văn hóa, Viện Văn hóa & NXB Văn hóa - Thông tin, h"i 997. 18 nền của th ế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người, noi đó có văn hóa. Trong cuốn sách Tìm vê bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình"5.

Bên cạnh các luận điểm trong nước; trên thế giới, vấn đề văn hóa cũng là vấn đề được các cá nhân, tổ chức khác nhau quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu đ ể rồi từ đó đưa ra những luận điếm khác nhau về Văn hóa. Theo Tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc (UNESCO): "Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác vói dân tộc kia". Như vậy, có thể nói: văn hóa là sự khác biệt, đó chính là nét riêng có, cái riêng biệt của mỗi nền văn hóa, là bản sắc tạo nên sự phong phú đa dạng trong đòi sống xã hội loài người. Cũng trên quan điểm như vậy, ngài Fedérico Mayor, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO cũng đã từng nói: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tống quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đõ diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thếkỷ nó đã cấu thành nên một hệ thông các giá trị, truỳên thống, thẩm mỹ, lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bàn sắc riêng của mình"6.

Vần hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người trên nền của thế giói tự nhiên - xã hội; như vậy, văn hóa là "mặt bằng sáng tạo" của con người. Đây mới chỉ là phần rất nhỏ trong tất cả nhũng luận điểm khác nhau và khó có thê’chi ra có bao nhiêu khái niệm về văn hóa, nhưng dù là bất cứ khái niệm nào về văn hóa 5 Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Thành phổ Hồ Chí Minh 1997, trang 27. 6 Dần theo: “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa cùa Đảng", Học viộn Chír.h trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội, H. 19 cũng phải gắn với con người.

Con người là chủ thê’ sáng tạo ra văn hóa, con người là văn hóa, không có con người sẽ không có văn hóa! - Văn hóa hiểu theo nghĩa từ nguyên Hán Việt Văn hóa là 1 từ Hán Việt, nó có nguồn gốc từ các chữ Hán. Thứ nhất: chữ Văn: (Ằ) nghĩa gốc là xăm thân. Tập tục này có từ buổi hồng hoang của người nguyên thủy; khi đó người nguyên thủy chưa có trang phục, họ xăm thân để tạo ra thứ trang phục sơ khai nhằm bảo vệ mình trước các loài thủy quái, không đ ể chúng tấn công khi họ xuống dưới nước. Đồng thời, trong quá trình phát triển, con người tiếp tục xăm trổ trên thân thể của m ình cũng để nhằm mục đích làm đẹp mình trước thiên nhiên và đồng loại (khi đó những hình vẽ xăm trổ mang tính chất là các hoa văn).

Bên cạnh điều đó; sau này, việc xăm trổ ữên thân thể còn hàm chứa những ý nghĩa ma thuật về tôn giáo - tín ngưỡng khác nhau. Thứ hai, (Jc) Văn: còn có nghĩa là văn chương, học vấn, tri thức, trí tuệ. Thứ ba, (Ẵ) Văn còn có nghĩa là cân bằng, nền tảng. Điều này được chứng minh qua thực tế diễn ra dưới thòi phong kiến, do tư tưởng "trọng Nam hơn Nữ" (nhấn mạnh: hơn) nên trong các gia đình và toàn xã hội phong kiến Việt Nam trước đây, về cơ bản chi con trai mới được đi học chữ Nho.

Trách nhiệm người nam giới, đàn ông trong xã hội phải là người biết cân bằng tất cả các mối quan hệ trong gia đình và xã hội để từ đó mới làm tốt được việc: "Tu thân - Tê gia - Trị quốc - Bình thiên hạ". Chinh vì các lý do như vậy mà trước đây tên đệm của phái nam thường là Văn (Ẵ) trong khi tên đệm của phái nữ thường là Thị (Đc). Trong Hán văn, chữ thị ( Bc): nghĩa là nghiêng lệch, khuyết thiếu, không cân bằng?! Bởi là chữ tượng hình, chữ thị (Ki) gồm hai chữ nhân dựa vào nhau [do vậy, trong xã hội phong kiến Việt Nam, người phụ nữ phải nương 20 dựa những người thân trong gia đình th ể hiện qua lề luật: "tam tòng - tứ đức"]. Chữ Hóa (-íb): là sự biến đổi (về trạng thái) theo ý nghĩa tích cực, tiến bộ và luôn mang những ý nghĩa về thần thárth.

Do vậy, Văn hóa (Ẵ i t ) theo nghĩa Hán - Việt chính là sự biến đổi của con người (trước hết ở bề ngoài) theo ý nghĩa tích cực, tiến bộ. Trên thực tế, văn hóa ra đời từ cuộc sống, phản ánh cuộc sống nhưng đồng thòi cũng thể hiện khát vọng của cuộc sống, định hướng cuộc sống tốt đẹp hơn. Lấy ví dụ hình tượng "Nàng Tô Thị" (Lạng Sơn) là một minh chứng. Tảng đá có hình người đàn bà bồng con ngóng về phương xa là sản phẩm của tự nhiên, Trời - Đất có tự bao giờ.

Trên cái nền tự nhiên ấy, con người đã sáng tạo ra câu chuyện "Sự tích nàng Tô Thị" đ ể lý giải cho hình hài pho tượng người đàn bà bồng con. Đá chi là đá nhung người đời đã thổi hồn vào đá, trao cho đá một hình tượng biểu trưng về sự thủy chung của người phụ nữ; người ta đã lý giải cái tự nhiên thông qua cái xã hội. đó chính là Văn hóa! Do vậy, cũng có thể đưa ra khái niệm: "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình tương tác với thế giới tự nhiên và xã hội của mình. Những giá trị này được hình thành nên trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người; trở thành tài sản văn hóa của cả cộng đông; được cộng đông bảo (ôn, phát triển và truyền trao cho các thế hệ kế tiếp'' [Dương Văn Sáu].

Bên cạnh khái niệm văn hóa, luôn tồn tại và phổ bicn khái niệm văn minh. Trong tiếng Anh, Pháp từ civilisatỉon có gốc La tin là cỉvitas với nghĩa gốc của nó là đô thị, thành phố, có nghĩa là đô’ chi khu vực có trình độ phát triển cao hon vói những khu vực khác trong cùng thòi điểm tồn tại. Dưới góc độ phổ quát, văn minh được coi là một nền văn hóa có đặc trưng riêng, tiêu biểu 21 cho một xã hội rộng lớn, một thời đại hay cả nhân loại, ví d ụ như văn minh Ai Cập, văn minh Trung Hoa, văn minh Ấn Độ. Dưới góc độ giao tiếp, ứng xử, quan hệ xã hội, văn minh thể hiện mức sống và lõi sống, nếp sống, phong cách sống ở trình độ cao, mang những đặc ừưtig của rìên văn hóa cao7.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Dương Văn Sáu (2017), Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam, Giáo trình, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Dương, V. S. (2017). Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam [Giáo trình, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giao-trinh-di-tich-lich-su-van-hoa-va-danh-thang-viet-nam-ts-duong-van-sau/9646538337
IEEE
V. S. Dương, "Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam," Giáo trình, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội, 2017. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giao-trinh-di-tich-lich-su-van-hoa-va-danh-thang-viet-nam-ts-duong-van-sau/9646538337

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác