Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Thái Lan là một quốc gia nằm ở vị trí địa chiến lược, tương đối trung tâm Đông Nam Á, với một nền kinh tế khá phát triển và nền dân chủ đang trên đường trưởng thành, có nền ngoại giao thực dụng, linh hoạt, nhưng tình hình chính trị - xã hội thì thường hay bất ổn. Vì vậy, giới học giả trong nước và trên thế giới dành quan tâm nhiều nghiên cứu về đối tượng này. Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài Thứ nhất, việc nghiên cứu Thái Lan gắn với bối cảnh chung Đông Nam Á: Thái Lan là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, có mối quan hệ lịch sử, kinh tế, văn hóa lâu đời với các quốc gia trong khu vực, vì vậy, tài liệu nghiên cứu về Thái Lan gắn với khu vực này khá phong phú.
Tiêu biểu là các công trình sau: Mô hình nền hành chính các nước ASEAN của Lương Trọng Yêm và Bùi Thế Vĩnh (NXB Chính trị Quốc gia, 1998); Lịch sử Đông Nam Á (NXB Giáo dục, 2005) của tác giả Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh; Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI của tác giả Trần Khánh (NXB Khoa học xã hội, 2006); Tri thức Đông Nam Á (NXB Chính trị quốc gia, 2008) của Vũ Dương Ninh (chủ biên) và Lương Ninh; Xã hội dân sự ở một số nước Đông Nam Á do Lê Thanh Hương chủ biên, xuất bản năm 2009; Lịch sử Đông Nam Á, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội của tác giả Trần Khánh (chủ biên, 2016); … Đây là các công trình đã đề cập đến những nét cơ bản nhất về tình hình chung của khu vực cũng như tình hình kinh tế, chính trị của các quốc gia Đông Nam Á một cách khá cụ thể, trong đó có Thái Lan. Đề tài khoa học cấp Bộ Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đến Việt Nam do Nguyễn Hoàng Giáp làm chủ biên (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011) và cuốn Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông Nam Á ba thập niên đầu sau Chiến tranh lạnh do Trần Khánh làm chủ biên (NXB Thế giới, 2014) cho rằng, trong thập niên đầu thế kỷ XXI, các nước lớn đều quan tâm và mong muốn hiện diện ở Đông Nam Á, can thiệp sâu, rộng hơn vào khu vực nhằm giành giật ảnh hưởng và kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để tạo dựng vị thế, hướng khu vực đi theo quỹ đạo riêng của mình thông qua thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, tăng cường sự hiện diện quân sự. Do đó, các quốc gia ở Đông Nam Á (trong đó có 8 Thái Lan) đang phải ứng phó trước những biến động đầy phức tạp trong quan hệ với các nước lớn, với vô số thách thức, nhưng cũng nhiều cơ hội. Công trình nghiên cứu Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay do Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên, 2012), NXB Chính trị quốc gia - Sự thật.
Công trình được các tác giả đề cập đến những vấn đề có tính thời sự của nền chính trị quốc tế hiện nay, như xu thế toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa các nước lớn, chống chủ nghĩa khủng bố, trật tự thế giới mới…Cuốn sách cho thấy một bức tranh đa dạng về tình hình chính trị của từng quốc gia nói riêng cũng như thế giới nói chung. Ngoài ra, các tác giả cũng đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm đổi mới và tăng cường chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Các công trình nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 tại châu Á mà khởi nguồn từ Thái Lan đã được nhiều nhà nghiên cứu dành sự quan tâm. Tiêu biểu, năm 1998, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản chuyên đề: Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á và những vấn đề đặt ra hiện nay với một loạt bài nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đang diễn ra ở châu Á mà khởi đầu là ở Thái Lan.
Các nghiên cứu: So sánh cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ giữa Thái Lan và Mêhicô của tác giả Nguyễn Minh Phong, Khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp và triển vọng phục hồi của tác giả Nguyễn Hồng Sơn, Khủng hoảng tiền tệ ở châu Á và một số giải pháp đối với Việt Nam của tác giả Tào Hữu Phùng, bài viết Khủng hoảng tài chính ở châu Á: nguyên nhân, hậu quả và bài học với Việt Nam của tác giả Nguyễn Thiện Nhân đăng trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển, 2003. Trên đây là những công trình cung cấp kiến thức cơ sở nền tảng giúp chúng tôi có nhận thức về tình hình chung của các nước ở khu vực Đông Nam Á cũng như phông kiến thức về chính trị và quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, mới có được cái nhìn về Thái Lan sâu sắc hơn, đặt trong mối quan hệ với các quốc gia khu vực khi thực hiện đề tài. Thứ hai, các công trình chuyên khảo về Thái Lan: Thái Lan là một quốc gia có lịch sử lâu đời và độc đáo, có nền văn hóa phong phú, đa dạng.
Chính vì vậy, các tác giả Việt Nam đã có khá nhiều sách chuyên khảo về lịch sử tổng hợp của Thái Lan như: Lịch sử Vương quốc Thái Lan của Vũ Dương Ninh (chủ biên, 1994, NXB Giáo dục), Lịch sử Thái Lan (1998, NXB Khoa học xã hội) do Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai đồng chủ biên; Thái Lan những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI (do Nguyễn Thị Quế chủ biên, 2006, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà 9 Nội)… Trong những tác phẩm này, các tác giả đã dành nhiều công sức để trình bày những nét khái quát, chung nhất về đất nước Thái Lan trên các mặt kinh tế, xã hội cũng như những chuyển biến lớn của nền chính trị. Các nghiên cứu này giúp chúng tôi tiếp cận, khai thác và phục dựng bối cảnh lịch sử Thái Lan. Không chỉ dừng ở nghiên cứu lịch sử đơn thuần, nhiều học giả đã đi sâu nghiên cứu Thái Lan theo các chuyên đề khác nhau, trong đó không ít công trình nghiên cứu chú tâm nhận diện những vấn đề chính trị của Thái Lan. Ở đây, chúng tôi đề cập một số công trình tiêu biểu về tình hình chính trị theo diễn trình lịch sử quốc gia này.
Trước tiên, đề cập đến quá trình chuyển đổi thể chế chính trị từ nền quân chủ chuyên chế sang nền quân chủ lập hiến, tác giả Kim Ngọc Thu Trang (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2013) đã lựa chọn cách tiếp cận này với Luận án Tiến sĩ lịch sử: Cách mạng năm 1932 ở Xiêm (Thái Lan): tính chất và ý nghĩa lịch sử. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã khái quát những nhân tố khiến giới quân sự quyết định tiến hành cuộc cách mạng năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế cũng như diễn biến và kết quả cuộc cách mạng. Công trình nghiên cứu cũng phân tích, làm rõ tính chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng này, so sánh, đối chiếu với các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu trong các thế kỷ trước đó để đưa ra những đặc điểm của cuộc cách mạng 1932. Luận án cũng đưa ra kết luận khi cho rằng cuộc chính biến của tầng lớp sĩ quan quân đội lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, tạo dựng chính thể quân chủ lập hiến là một cuộc cách mạng, tạo điều kiện để Thái Lan tiến hành các cải cách theo hướng tư sản, mở ra kỷ nguyên mới tại quốc gia này.
Nhận định về tính chất cuộc cách mạng 1932, cũng tác giả Kim Ngọc Thu Trang có bài phân tích Về tính chất cách mạng 1932 ở Xiêm (Thái Lan) (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7/2012), cho rằng cuộc cách mạng 1932 ở Xiêm là một hiện tượng khá độc đáo, để đưa ra nhận định này, tác giả đã khát quát vài nét về cuộc cách mạng với các nguyên nhân điển hình, diễn biến chóng vánh và để lại hệ quả to lớn, biến chuyển chính thể Thái Lan từ chính thể quân chủ chuyên chế sang chính thể quân chủ lập hiến. Theo Kim Ngọc Thu Trang, cuộc cách mạng 1932 không phải là một cuộc chính biến mà cho rằng đây hoàn toàn là một cuộc cách mạng mang tính chất cuộc cách mạng tư sản, đã giải quyết được những vấn đề, nhiệm vụ cơ bản của một cuộc cách mạng tư sản. Nhận diện thêm về quá trình đấu tranh đòi dân chủ của người Thái, công trình nghiên cứu Nhìn lại cuộc nổi dậy của sinh viên Thái Lan tháng 10/1973 của tác giả Lê Hùng Nam (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/1994), đã đưa ra cách nhìn về truyền thống đấu tranh trong tầng lớp trí thức, nhất là giới sinh viên tại các trường Đại học trong thập niên 1970. Nhờ mối liên hệ chặt chẽ và sự giúp 10 đỡ của nhiều tầng lớp nhân dân, sinh viên đã trở thành một lực lượng chính trị hùng hậu, góp phần quyết định trong việc lật đổ chế độ độc tài Thanom Kittikachon năm 1973, mở ra một thời kỳ dân chủ mới cho Thái Lan, cũng từ đây vai trò của tầng lớp quân nhân trên chính trường thực sự bị thách thức bởi các lực lượng dân chủ.
Là lĩnh vực mấu chốt của ổn định chính trị và xã hội, nền kinh tế Thái Lan được ghi nhận có những năm tháng phát triển cực thịnh, đưa đất nước hướng đến trở thành một con rồng nhỏ châu Á về kinh tế. Tuy vậy, với chính sách phát triển kinh tế hướng ngoại, dựa vào các nguồn lực đầu tư bên ngoài mà thiếu đi sự ổn định từ nền kinh tế nội tại hay chính sách phát triển kinh tế thiếu cân bằng giữa các vùng, các ngành kinh tế… đã khiến Thái Lan vấp phải rất nhiều hệ lụy, chênh lệch phát triển vùng miền, chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Đề cập đến lĩnh vực này, nhiều học giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu, như: Luận án Tiến sĩ kinh tế của Trương Duy Hoà Chính sách công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu ở Thái Lan từ 1972 đến nay, (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, 2005).