Luận văn biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam

Nghiên cứu biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam qua các thập kỷ. Phân tích gia tăng dân số tự nhiên, quá trình già hóa dân số từ 1979-2009.

Chuyên ngành

Dân số học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo nghiên cứu

2009

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam

Biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam là chủ đề then chốt trong hoạch định chính sách phát triển quốc gia. Từ những thập niên 1950 đến nay, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển dịch dân số rõ rệt, từ thời kỳ bùng nổ dân số đến giai đoạn già hóa dân số hiện nay. Theo GS. TS Nguyễn Viết Thịnh và GS. TS Đỗ Thị Đức (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), dân số Việt Nam tăng từ 15,6 triệu người (1921) lên 85,8 triệu người (2009), và dự báo đạt 108,7 triệu vào năm 2049. Tuy nhiên, sau năm 2050, dân số sẽ bắt đầu suy giảm do tỉ suất sinh thấptử vong tăng từ già hóa dân số. Cơ cấu tuổi – giới tính cũng thay đổi mạnh: tỷ lệ người cao tuổi tăng, trong khi nhóm trẻ em và thanh niên giảm dần. Điều này phản ánh rõ sự chuyển dịch từ mô hình dân số trẻ sang dân số già – một đặc điểm của quá trình quá độ dân số. Việc hiểu rõ biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam giúp các cơ quan chức năng điều chỉnh chính sách về y tế, giáo dục, lao động và an sinh xã hội một cách chính xác và kịp thời.

1.1. Tổng quan về quá trình biến đổi dân số Việt Nam từ 1950 đến nay

Từ năm 1950, Việt Nam bước vào giai đoạn II của quá trình quá độ dân số, với tỉ suất sinh caotỉ suất tử vong giảm. Đến cuối thập niên 1970 – đầu 1980, bùng nổ dân số đạt đỉnh. Từ năm 2000 – 2005, dân số chuyển sang giai đoạn ổn định nhờ thành tựu của chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình. Tỉ suất gia tăng tự nhiên năm 2009 chỉ còn 1,2%, thấp hơn mức trung bình toàn cầu (1,2% so với 1,2% thế giới, nhưng với tỉ suất sinh 17‰ và tử vong 5,5‰).

1.2. Diễn biến cơ cấu tuổi giới tính theo thời gian và không gian

Cơ cấu tuổi Việt Nam đang già hóa nhanh: năm 2009, nhóm 0–14 tuổi chiếm dưới 25%, trong khi nhóm 65+ tăng đều. Về giới tính, tỷ số giới tính khi sinh có xu hướng mất cân bằng, đặc biệt ở khu vực nông thôn và một số vùng như Đồng bằng sông Hồng. Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng địa lý (Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ) cho thấy phân hóa không gian rõ rệt trong cơ cấu dân số.

II. Những thách thức từ biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam

Biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam đặt ra nhiều thách thức cho phát triển bền vững. Già hóa dân số làm gia tăng gánh nặng chăm sóc y tế và lương hưu, trong khi lực lượng lao động trẻ suy giảm. Mất cân bằng giới tính khi sinh – với tỷ lệ bé trai cao bất thường – có thể dẫn đến tình trạng “thừa nam, thiếu nữ” trong 20–30 năm tới, ảnh hưởng đến hôn nhân, gia đình và ổn định xã hội. Ngoài ra, sự chênh lệch cơ cấu tuổi – giới tính giữa các vùng gây khó khăn trong phân bổ nguồn lực công. Ví dụ, Tây Nguyên tuy có tổng tỉ suất sinh cao nhất (2,65 năm 2009), nhưng lại là vùng có mức sống thấp, trong khi Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã dưới mức sinh thay thế (1,7–1,83), dẫn đến thiếu hụt lao động tương lai. Những thách thức này đòi hỏi chính sách dân số phải linh hoạt, dựa trên dữ liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở chính xác và cập nhật.

2.1. Tác động của già hóa dân số đến hệ thống an sinh xã hội

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh nhất thế giới. Dự báo đến năm 2035, nhóm 65+ sẽ chiếm trên 10% tổng dân số. Điều này gây áp lực lớn lên hệ thống y tế, bảo hiểm xã hộichăm sóc người cao tuổi. Nếu không có giải pháp tài chính và nhân lực phù hợp, nguy cơ vỡ quỹ hưu trí và quá tải bệnh viện là hiện hữu.

2.2. Mất cân bằng giới tính khi sinh và hệ lụy xã hội

Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam năm 2009 là 111 bé trai/100 bé gái – cao hơn mức tự nhiên (103–107). Nguyên nhân chủ yếu là ưu tiên con trai trong văn hóa truyền thống, kết hợp với siêu âm chọn giới tính. Hậu quả là khoảng 1,5–2 triệu nam giới sẽ khó kết hôn vào năm 2050, làm gia tăng bất ổn xã hội, tệ nạndi cư hôn nhân.

III. Phương pháp phân tích biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam

Phân tích biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam đòi hỏi phương pháp đa chiều, kết hợp dữ liệu định lượng và bối cảnh xã hội – kinh tế. Dữ liệu cốt lõi đến từ Tổng điều tra dân số và nhà ở (1979, 1989, 1999, 2009, 2019), cung cấp thông tin về quy mô, phân bố, tuổi, giới tính và sinh – tử. Các chỉ số then chốt gồm: tỉ suất sinh thô, tổng tỉ suất sinh (TFR), tỉ suất tử vong, tuổi thọ trung bình, và tỷ số giới tính. Phân tích không gian giúp phát hiện phân hóa vùng miền – ví dụ, TFR ở Tây Nguyên (2,65) cao gấp 1,5 lần so với Đông Nam Bộ (1,70). Ngoài ra, mô hình dự báo dân số của UN-DESA cho phép mô phỏng xu hướng đến năm 2100. Việc tích hợp dữ liệu này vào hệ thống thông tin địa lý (GIS) giúp hoạch định chính sách chính xác theo từng địa phương.

3.1. Vai trò của Tổng điều tra dân số trong phân tích cơ cấu dân số

Tổng điều tra dân số là nguồn dữ liệu chính thống và toàn diện nhất. Qua các kỳ điều tra, Việt Nam ghi nhận sự sụt giảm mạnh của tổng tỉ suất sinh: từ 3,8 (1989) xuống 2,03 (2009) – dưới mức sinh thay thế (2,1). Dữ liệu này là “đầu vào” thiết yếu cho quy hoạch ngành như giáo dục, y tế, và thị trường lao động.

3.2. Ứng dụng mô hình dự báo dân số của UN DESA

Mô hình của UN-DESA dự báo dân số Việt Nam đạt đỉnh 104,1 triệu người vào 2045–2050, sau đó suy giảm. Mô hình này tích hợp xu hướng sinh – tử, di cư, và già hóa, giúp chính phủ chuẩn bị cho các kịch bản dân số dài hạn, đặc biệt trong chính sách hưu tríchăm sóc người già.

IV. Giải pháp điều chỉnh chính sách dựa trên biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính

Để ứng phó với biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam, cần chuyển từ chính sách “giảm sinh” sang “cân bằng sinh – phát triển”. Trước hết, cần khuyến khích sinh con thứ hai ở vùng có TFR dưới mức thay thế (Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long) thông qua hỗ trợ tài chính, nhà ở và dịch vụ chăm sóc trẻ em. Thứ hai, chống mất cân bằng giới tính khi sinh bằng cách siết chặt quy định siêu âm, kết hợp truyền thông thay đổi quan niệm trọng nam. Thứ ba, xây dựng hệ thống chăm sóc người cao tuổi dựa trên mô hình “lão hóa tích cực”, kết hợp y tế, cộng đồng và công nghệ. Cuối cùng, tận dụng cơ hội dân số vàng (2010–2040) bằng cách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng đào tạo nghề và cải cách thị trường lao động.

4.1. Chính sách khuyến sinh ở vùng có mức sinh thấp

Các tỉnh như TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu có TFR dưới 1,8 – cần chính sách hỗ trợ sinh con như: trợ cấp tiền mặt, miễn giảm học phí, ưu đãi thuế. Mô hình này đã thành công ở Nhật Bản, Hàn Quốc và có thể áp dụng cho Việt Nam.

4.2. Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

Chiến dịch “Con nào cũng là con” cần được triển khai mạnh ở vùng nông thôn. Đồng thời, xử phạt nghiêm các cơ sở y tế siêu âm chọn giới tính. Dữ liệu cho thấy Tây Nguyên – dù có TFR cao – nhưng cũng có tỷ số giới tính khi sinh cao, cho thấy nhu cầu can thiệp sớm.

V. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính

Nghiên cứu về biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong giáo dục, Bộ GD&ĐT điều chỉnh quy mô trường lớp theo dự báo số trẻ em đi học. Trong y tế, Bộ Y tế xây dựng chiến lược chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến 2030. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sử dụng dữ liệu dân số để tính toán cân đối quỹ hưu trí. Ngoài ra, các địa phương như Hà Nội và TP.HCM đã áp dụng bản đồ dân số GIS để phân bổ trạm y tế, trường học và nhà dưỡng lão. Đặc biệt, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2021–2030 đã lồng ghép yếu tố dân số làm trục xuyên suốt, nhấn mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng dân số chứ không phải số lượng.

5.1. Ứng dụng trong quy hoạch ngành y tế và giáo dục

Dữ liệu dân số giúp dự báo nhu cầu giường bệnh, bác sĩ, và trường học. Ví dụ, Đồng bằng sông Cửu Long – với dân số trẻ giảm – đã chuyển hướng đầu tư từ trường tiểu học sang trường nghề và trung tâm chăm sóc người già.

5.2. Tích hợp dân số vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

Chiến lược dân số quốc gia đến 2030 đặt mục tiêu cân bằng cơ cấu tuổi – giới tính, nâng cao chất lượng dân số, và thích ứng với già hóa. Đây là lần đầu tiên Việt Nam coi dân số là tài nguyên chiến lược, không chỉ là gánh nặng.

VI. Tương lai của biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam đến 2050

Đến năm 2050, biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính Việt Nam sẽ bước sang giai đoạn mới: dân số ổn định rồi suy giảm, tỷ lệ người già vượt 20%, và lực lượng lao động thu hẹp. Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt cơ hội dân số vàng (2010–2040), Việt Nam có thể đạt mức thu nhập cao trước khi già hóa sâu. Điều kiện tiên quyết là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, và xây dựng hệ thống an sinh linh hoạt. Đồng thời, cần theo dõi sát xu hướng di cư nội địa – đặc biệt từ nông thôn ra thành thị – để điều chỉnh quy hoạch đô thị. Tương lai dân số Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào sinh – tử, mà còn vào khả năng thích ứng chính sách trước những biến động toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và cách mạng công nghiệp 4.0.

6.1. Dự báo dân số Việt Nam theo kịch bản UN đến 2100

Theo UN-DESA, dân số Việt Nam đạt đỉnh 104,1 triệu người vào 2045–2050, sau đó giảm còn ~95 triệu vào 2100. Tuổi thọ trung bình sẽ vượt 80 tuổi, nhưng tỷ lệ phụ thuộc người già có thể lên 40%, tạo áp lực lớn cho thế hệ lao động.

6.2. Chiến lược thích ứng với dân số già và suy giảm lực lượng lao động

Cần kéo dài tuổi nghỉ hưu, khuyến khích lao động cao tuổi, phát triển chăm sóc dài hạn, và tự động hóa để bù đắp thiếu hụt lao động. Đồng thời, nâng cao sinh kế bền vững cho người cao tuổi ở nông thôn – nơi chiếm 70% người già cả nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn những động thái mới trong biến đổi dân số và cơ cấu tuổi giới tính của dân số việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

NHỮNG ĐỘNG THÁI MỚI TRONG BIÊN ĐỐI DAN SỐ VÀ CƠ CÂU TUỔI - GIỚI TÍNH CỦA DÂN SỐ VIỆT NAM GS. TS Nguyễn Viết Thịnh, GS. TS Đỗ Thị Đức Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Mở đản Ở nước ta, trong những thập kì từ 19/9 đến nay, cứ 10 năm lại có một cuộc Tổng điều tra dân số (1979, 1989, 1999, 2/09), và từ 1999 trở lại đây là.

'Tổng điền tra dân số và nhà ở. Những thông số về dân số là quan trọng để có thể tích hẹp được các chính sách dân số với các chính sách phát biển của cả nước về từng vũng. Các thông số về dan số còn là “đầu vào” quan trọng trong việc quy hoạch tổng thể phát triển của từng ngành và từng, vũng, trang đó rá những ngành trực p đến an sinh xã hội nhw giáo đục, y tổ, bảo hiểm xã hội, lao ¿ng - việc làm Trơng bài này, chúng tôi chi phan h khái quát những động thái mới của dân số liên quan đến gia tăng dân số tự nhiên và cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính, cả theo chiễu thời gian và chiếu không gian. Dân số và sự biên đổi dan sé 2.

Dân số tủ sự gia từng điên số 'Về điện tích tụ nhiên, nước ta đứng thú 58 trên thế giới, nhưng vé dan số, nước ts đứng thứ 13, Theo các cuộc Tổng điểu tra dân số, dân số nước. 1a là Z6,3 triệu người (1/4/1999), 85/8 triệu người (1/4/2009). Theo Dự báo đầu số 2004-2049 [6], thì đân số nước ta sẽ vượt ngường 100 triệu người vào năm: 2025, đạt tới con số 108,7 triệu người vào năm 2049. Vâo năm 1921, dân số nước la mới có 15,6 triệu người Đôn mươi năm san (1961) dân số tăng gấp đãi.

Căng như nhiều nướt đang phát triển khác, 175 25 NĂM VIỆT NAM Hoc THEO ODE BING LIEN NGANEL hiện tượng “bùngnổ” đân số ở nước ta bắt đầu từ những năm 50 của thế kì này: Đến khoảng năm 1980 - 1985, dan số nước ta còn ở vào cuối giai đoạn II của sự quá độ đân số, và như vậy là sự “bùng nổ” dân số ở nước ta đạt mức. cực đại vào cuỗi thập kí 70, đầu thập kỉ 80, sau đó mới giảm dẫn, đi vào thế ẩn định từ khoảng năm 2000 - 2005 ở đi. Việt Nam hiện đã chuyển sang giai đoạn cuối của quá trình quá độ đân số: tỉ suất sinh đá tương đối thấp và đang giảm châm; lì suất từ vong cũng giữ ồn định ở mức tương đối thấp. Dự báo trong những năm tới, tỉ suất tử vong sẽ tăng lên do quá trình già hóa đân số.

Vào khoảng giữa thể ki này. (2045 - 2050), theo DESA, đân số nước ta sẽ đạt đến quy mô lớn nhất (104,1 triệu người), sau đó là quá trình suy giảm dân số cho đến cuỗi thế kỉ (xem Hình 1), Hiện nay, tỉ suất gia tăng đân số của nước ta đã tương đương hoặc thấp hơn mức trung bình của the gist, khang định những thành tưu to lớn của công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình. Theo 2009 World Population Data Sheet (Population Reference Bureau), thi năm 2009, tỉ suất sinh của nước ta là17%e, ti suất tử là 556, tì suất gia tăng tự nhiên 12%. Trong khi đó, các chỉ tiêu này trung bình toàn thế giới tương ứng là 20%ø, 8%e và 1,2%.

Các giai đoạn quá độ đán số Việt Nam 1950-2100 50 45 Tỉ suất sinh thô và tử thô (phần nghìn) 40 35 30 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4. 25 20 15 2020-2025 2040-2045 2010-2015 2015-2020 2030-2035 2035-2040 2045-2050 2050-2055 2055-2060 2060-2065 2065-2070 2070-2075 2075-2080 2080-2085 2085-2090 2090-2095 2095-2100 2025-2030 —— Tisuất từ thô- ốc lượng Tisust tử thô - PA trung bình — Tisuitsinh th-udclugng _ s=se= Tisudtsinh thé - PA trung binh (Ngudn: sar tir 56 li@u UN-DESA, World Population Prospects: The 2010 Recrsron) 7% | 28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE Bang 1. Dân số trang bình và tỉ lệ phát triển đân số hằng năm ở Việt Nam. trong thời ki 1951-2010 Năm "Tổng số dân TIIệ phát triển dân số hàng năm tnghìn người) Giai đoạn % 1951 23061 - - 1955 25074 1951-1955 211 1960 30172 1955-60 377 1985 34929 1980-1965 297 1970 41063 1965-1870 3,29 1975 47638 1970-1975 3/02 1980 53722 1975-1980 143 1985 59872 1980-1985 219 18990 6016 1985-1990.

1/97 1995 71995 1990-1995 1/75 2000 77631 1995-2000 152 2005 82392 2000-2005 1/20 2010 86928 2005-2010 1,08 Regudst, Phe sichkết quả điều tra nu - Tổng điều tra đâu sẽ Việt Nam 1985; Bề giảm thẳng kế năm 2610. Mức phát uiển đân số trong hai thập niền qua đa giảm đi đáng kể Vao diu thập ki 90 của thế kí XX, mỗi năm dân số tăng thêm hơn 1,2 triệu. người, đến năm 2000, tăng thêm khoảng 1,0 tri \ người và vào cuỗi thập niên đầu của thế kì XI, mỗi năm tăng thêm khoảng 900 nghin người. Số dân tăng thêm này tương đương đân số của một tỉnh (năm 2010, có 20 tỉnh, thành phế có đân số dưới 900 nghìn người), lớn gấp đôi số dân của một số tỉnh như Lai Chân, Bắc Kạn, Kem Tum.

Tỉ suất tăng tự nhiên thay đổi khá mạnh theo các vùng của nước ta, trị số cao nhất gấp khoảng {,Z lần so với trị số thấp nhất. Diễu này chủ yếu do khác hiệt trong tỉ suất sinh thả. [77 25 NĂM VIỆT NAM Hoc THEO OB HUONG LIEN NOANEE Công tác kế hoạch hoá gia đình ở khu vực đô thị được thực hiện có kết quả tốt, trong khi đó ở nông thôn vẫn còn tổn tại một khoảng cách đáng, kể giữa nhận thức về sức ép din s6 và hành vi sinh đẻ trên thực tế. Dường, như có sự giằng co của các yếu tô truyền thông trước các yếu tố kinh tế và tác động của chính sách đân số.

Theo Dự báo |6], thi TER cả nước sẽ giảm xuống dưới 2,0 trong vòng 5 năm tới và đến cuối thập niên 30, đầu thập niên 40 của thé kỉ XXT thì ổn định ở mức 1,85, không còn sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Với TER ở đưới mức sinh thay thể vả tiếp tục giảm, đồng thời tuổi thọ của dân cư tăng, lên, thì đân số nước ta mặc đù đang ở giai đoạn có cơ cầu dân số vàng, nhưng, cũng đang già hóa, và quy mô dân số sẽ đẫn đi vào thể ổn định. Tổng tỉ suất sinh (TFR) giả thiết cho một số giai đoạn dự báo TOT 2009 | 2014-2019 | 2024-2029 | 2034-2039 | 2044-2049 Ca nuoc Thanh thi Nông thôn Tổng [suft nh (TP) năm 1080) ead (in Sôi 1M đện 238 784| 25 Nhat Vier NAM HỌC THEO ĐINH HƯỚNG LIÊN NGÀNH Tuổi thọ trung bình của đân cứ nước ta đã tăng đáng kể, trong vòng 201 năm (1989-2009) đá tăng Z6 tuổi (nam tăng 72, nữ tăng 8,1 tuổi), Tuổi thọ của nữ cao hơn của nam tới 5,4 tuổi (2009). Cùng với việc nâng tuổi tho chung của dân cư, thì khoảng cách tuổi thọ giữa nữ và nam sẽ tăng lên trong tương lai.

Quá trình giảm nhanh tỉ suất chết trẻ em và tăng nhanh tuổi thọ của dân cư Việt Nam so với thế giối, 1950 - 2010 Hình 4 dựa trên đánh giá của Vụ Kinh tế và xã hội - Liên Hiệp Quốc (UN-DESA) cho thấy rõ hơn những thành tựu này, có thể nói mô hình tử vong và tuổi tho của dân số nước ta đang tiệm cận với mô hình của các nước phát triển trên thé giới. Bản đỗ tuổi thọ trung bình của dân cư, nam 1999 va 2009 | 781 25 NĂM VIỆT NAM Hoc THEO OB HUONG LIEN NOANEE Hinh 2. Dan sé va gia ting dân số (nghỉn người) 1990-2010 Nghìn người Nghìn người 100000 1400 hà 1200, 80000 70000 1000 60000 800 50000 ene 600 30000 400 20000 ThoiÐ 200 0 6 1990. Một số chỉ tiêu vẻ bién dong dan số hự nhiên phân theo vùng năm 1999 và năm 2009 Năm 1999 Năm 2009 Tisuất | Tisuất | Tỉsuất | Tisuất | Tisuất | Trsuất sinh thô | chết | GTTN | sinh tho | chéttho | GTTN (Gee) |thôŒđ)| (% | (đo) | () | (M) lcà NƯỚC 199 | 56 | 1⁄43 | 176 | 68 | 198 Thành thị 159 | 42 | 182 | 3 | ss | t8 ~Nông thôn 22 | 60 | 152 | 128 | 74 | t4 lMiền núi-Trung du Bắc Bộ 195 | 6ã | 130 - Đông Bắc 193 | 64 | 1⁄49 “Tay Bic 289 | 70 | 219 |Đồng bằng sông Hồng 162 51 11 176 72 1,04 Bắc Trung Bộ.

24 | 67 | 147 | 168 | 76 | 092 Duyên hải NamTrung Bộ | 210 | 64 | 146 | 169 | 65 | 194 ray Nguyên 2g | a7 | 2 | 29 | 61 | 158 {Bong Nam 86 182 | 45 | 147 | 178 | 63 | 15 (D8 sông Cửu Long 189 | S50 | 139 | 160 | 68 | 092 'Ngiằn. Tầng điễu tra dầu số cà nhì 1/4/1989: KẾt quả điều Ha mẫu, KẾt quả xử lí của ác gui từ Cơ sở dữ liệu điều tra mấu 15%, Tổng điều tra đân số tà nhà ở 2009 778 | 2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH Tuổi thọ trang bình của dân cu phân hóa khá mạnh giữa các tỉnh, Năm: 1999, tuổi thọ thấp nhất của dân cư là thuộc tỉnh Kor Tư (55,8 tuổi) và cao nhất là ở TP IIề Chỉ Minh (78/2 tuổi), Năm 2009, tuổi thọ trung hình. thắp nhất là ở tỉnh T.ai Châu (63,9 trồi) và cao nhất vẫn là TP Hỗ Chí Minh (759 tuổi) Nếu so sánh các bản đỏ ở hình 3 và bình 5, đều được lập thang, chí giải theo cùng một phương pháp (ở đây là phương pháp phân bậc tr nhiên), thủ có thể rúI ra nhận xét thú vị: Bản đồ về tỉ lệ tử vong trẻ em dưới. 1 tuổi và bàn đỏ về tuổi thọ trung Hình của đân cư giáng như là âm bản và đương bản của một tắm hình vậy.

Tuổi thọ trung bình của dân cư 1989, 1999, 2009 1989 1999 2008 Chung 52 682 728 -Nam 63,0 665 702 -Nữ 675 701 756 Chánh lệch về tuổi thọ giữa nữ và nam. 43 36 5A Trong các nguyên nhân gây tử vong, chiếm tỉ lệ cao nhất vẫn là các bệnh truyễn nhiễm, kí sinh Irùng, suy đình đưỡng, thiểu máu. Tiếp đến là các bệnh về đường hô hắp, đường tiêu hoá. Đăng chú ý là một số nguyên nhan gay tử vong chiếm tỉ lệ cao ở các nước phát triển thì nay cũng bát đu chiếm tỉ lệ đáng kể ở nước fa, chẳng hạn như bệnh ung thư, bệnh lim.

Thì nạn giao thẳng cúng là một nguyễn nhân gây tử vong quan trọng, Việc nhiễm HIV và mắc bệnh AIDS & một số nhớm dân cử có ngny. cơ cao cũng đang trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng, 2-3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ