CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU NHỮNG BIẾN ĐỔI CƠ CẤU VIỆC LÀM Trước đây, trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc làm chỉ được xã hội thừa nhận và tôn trọng khi nằm trong phạm vi những mối quan hệ kinh tế quốc doanh hay kinh tế tập thể và người lao động cũng cần phải hoặc hướng tới mục tiêu là lao động trong biên chế Nhà nước. Chỉ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với đường lối đổi mới toàn diện, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, c ho phép tư nhân trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh và thuê mướn lao động, thì những nhận thức về việc làm đã có những thay đổi căn bản từ lý thuyết đến thực tiễn. Một số khái niệm được dùng trong luận văn I. Việc làm Việc làm mang những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau.
Việc làm cũng được dùng để chỉ những việc khác nhau trong những điều kiện và bối cảnh khác nhau. Hành động, điều đã làm, phải làm. Công việc được giao theo nghề nghiệp, có thù lao và chế độ” “Emploi: 1. Việc sử dụng một cái gì đó.
Phương thức dùng, cách sử dụng. Lao động được trả công”. Cả hai từ điển đều có sự thống nhất ở ý thứ hai, cả hai đều nhấn mạnh về khía cạnh “được trả công” của khái niệm việc làm. Theo Thông tư hướng dẫn về điều tra người chưa có việc làm của Liên bộ Lao động – Tổng cục Thống kê năm 1986 thì: “ Việc làm là dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, nhằm đem lại thu nhập cho gia đình”.
Bộ Luật lao động được Quốc hội khoá 9 thông qua ngày 23.1994 tại điều 13 khẳng định: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Như vậy, việc làm bao gồm ba khía cạnh: - Là hoạt động nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần. - Là hoạt động có mục đích và có thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật). - Không bị pháp luật cấm.
Ta thấy lao động và việc làm là những khái niệm có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau. Việc làm có giới hạn về số lượng nguồn lao động, có giới hạn về số lượng và nhân khẩu nhưng sức lao động thì không. Việc làm thể hiện mối quan hệ giữa con người với những chỗ làm cụ thể, là những giới hạn cần thiết trong đó lao động diễn ra. Việc làm là điều kiện cần thiết để thoã mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người, trong đó có biểu hiện cả vấn đề tổ chức, văn hoá ứng xử, v.v… Về giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu 12 tố vật chất trong quá trình sản xuất.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tổng hợp, liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc loại những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. Cơ cấu việc làm Theo quan điểm xã hội học, cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định, biểu hiện như là một sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của hệ thống xã hội đó. Cơ cấu xã hội có ba nội dung chủ yếu: Cơ cấu giai cấp xã hội; Cơ cấu lao động nghề nghiệp ; Vị thế, vai trò xã hội. Khi cơ cấu xã hội biến đổi thì các bộ phận trên cũng biến đổi và ngược lại, mỗi sự biến đổi của các thành tố sẽ kéo theo sự biến đổi của cơ cấu xã hội.
Như vậy, cơ cấu việc làm là một bộ phận của cơ cấu xã hội, hơn thế nữa, là bộ phận có quan hệ mật thiết với phân tầng xã hội, vị thế, vai trò và các thiết chế xã hội. Cơ cấu việc làm là tổng thể kết cấu, hình thức tổ chức hoạt động lao động sản xuất – nghề nghiệp của một xã hội nhất định. Nó phản ánh không chỉ là những dấu hiệu định lượng về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hoạt động nghề nghiệp xã hội mà còn phản ánh dấu hiệu định tính về thái độ, hành vi, chuẩn mực văn hóa của cá nhân và nhóm xã hội. Lao động Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần” (trang 553).
Điều 55 Hiến pháp sửa đổi năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động. Như vậy, lao động là một khái niệm rộng, dùng để chỉ hoạt động có mục đích của con người nhằm sáng tạo ra sản phẩm (vật chất, tinh thần, văn hóa) để duy trì sự tồn tại của xã hội nói chung. Thị trường lao động – việc làm 13 Khái niệm thị trường được hiểu là tập hợp nhu cầu của người tiêu dùng về một loại hàng hoá nào đó và đồng thời là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hoá bằng tiền tệ.
Thị trường lao động, theo Adam Smith là một không gian trao đổi dịch vụ lao động ( hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sở hữu lao động) và một bên là người bán sức lao động (người lao động) Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX khẳng định: Thị trường lao động "là thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động trong một phạm vi nhất định" Thị trường lao động được hình thành bởi cung lao động và cầu lao động. Chủ thể cầu lao động (các doanh nghiệp) chính là chủ thể tạo ra việc làm. Ở thị trường lao động, cái cần mua và bán là sức lao động – cái sản sinh ra công năng hay trí năng để sản xuất hoặc kinh doanh. Giá trị của hàng hoá sức lao động đòi hỏi phải trả ngang giá với các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động, bao hàm cả các yếu tố tinh thần và lịch sử, yếu tố đào tạo, giáo dục và gia đình.
Mặt khác, tính nhân văn của lao động còn phải xét về nhiều mặt: chính trị, đạo đức, văn hoá, xã hội, pháp luật v.v … Vì vậy lao động – việc làm không chỉ đơn thuần là khái niệm kinh tế học mà còn là vấn đề của xã hội học. Thị trường lao động chỉ có thể hình thành khi có đủ các yếu tố: có nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, có định chế pháp luật cho phép tồn tại thị trường lao động, người lao động thật sự có quyền sở hữu sức lao động của mình và họ không có sở hữu một loại tư liệu sản xuất nào có khả năng nuôi sống bản thân và gia đình. Khi đó sức lao động mới có điều kiện trở thành hàng hoá, thị trường lao động mới có cơ sở để hình thành và phát triển. Những quan điểm xã hội học có liên quan I.
Quan điểm về sự phân công lao động của E.Durkheim : Nửa cuối thế kỷ XIX ở nước Pháp được đánh dấu bởi sự chuyển biến mạnh mẽ không chỉ của các mặt kinh tế xã hội mà còn cả khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh này, sự xuất hiện của khoa học xã hội học đã có một ý nghĩa to lớn. Nó mở ra những xu hướng lý thuyết và thực tiễn mới cho việc nhận thức và đo lường những sự vận động và biến đổi của xã hội. 14 Khoa học xã hội học không chỉ là người chứng kiến mà còn phân tích, khám phá và lý giải những biến động xã hội, đặc biệt là của cái thế giới đang chuyển biến vào giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc và liên quan với nó là các biến động to lớn trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá.
Trước hết, các cuộc cách mạng thương mại và công nghệ đã làm lay chuyển tận gốc trật tự nền kinh tế cũ tồn tại và phát triển của hàng trăm năm trước đó. Hình thái kinh tế xã hội kiểu phong kiến bị sụp đổ từng mảng lớn trước sức mạnh bành trướng của thương mại và công nghiệp. Dưới tác động của tự do thương mại, tự do hoá sản xuất và đặc biệt là tự do hoá lao động, hệ thống tổ chức quản lý kinh tế theo kiểu truyền thống đã bị thay thế bằng cách tổ chức xã hội hiện đại. Nhờ vậy, thị trường đã mở rộng, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp và tập đoàn kinh tế đã ra đời thu hút nhiều lao động từ nông thôn ra thành phố làm thuê.
Hoạt động buôn bán và sản xuất tổ chức lại theo quy mô công nghiệp đã tạo ra và đẩy nhanh quá trình biến đổi kinh tế xã hội. Biến đổi kinh tế kéo theo những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội. Nông dân bị tách khỏi ruộng đất và trở thành người làm thuê, bán sức lao động. Của cải, đất đai tư bản không còn tập trung trong tay tầng lớp phong kiến, quý tộc, tăng lữ mà còn rơi vào tay giai cấp tư sản.
Nền công nghiệp quy mô lớn đã đẩy nhanh quá trình đô thị hoá cùng với sự tích tụ dân cư, phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng. Kỹ thuật, công nghệ và khoa học phát triển nhanh chóng. Chính việc sản xuất mang tính công nghiệp với quy mô lớn đã đòi hỏi sự mở mang buôn bán, giao lưu với thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá công nghiệp. Các hình thức tổ chức xã hội theo kiểu phong kiến trước đây bị lung lay, xáo trộn và biến đổi mạnh mẽ.
Sự xuất hiện và phát triển hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ trật tự xã hội phong kiến gây ra những xáo trộn và biến đổi trong đời sống kinh tế – xã hội của các tầng lớp, giai cấp và các nhóm xã hội. Quá trình xã hội hoá sản xuất dẫn đến sự thay đổi nghiêm trọng trong cấu trúc xã hội. Cuối thế kỷ XIX, trong sự phát triển tiến bộ của tư duy khoa học, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng, nhiều lĩnh vực nghiên cứu xã hội học đã được chú ý.