mở đầu cho một chiến lược lâu dài: xây dựng lực lượng chống lại họ Trịnh5. Từ đây, họ Nguyễn 4 Nguyễn Văn Kim (2011), Việt Nam trong thế giới Đông Á – Một cách tiếp cận liên ngành và khu vực học, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr. 5 Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) (2013), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. Trong bài viết “Chúa Tiên và công cuộc mở cõi của dân tộc” tại Hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng” ngày 25/9/2013, tác giả Nguyễn Quang Ngọc nhận định có phần “nh nhàng” hơn: “Chúng tôi đã kiểm tra lại các nguồn tư liệu và nhận thấy sự kiện năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, không phải là một cuộc trốn chạy, cũng không phải là một âm mưu xây dựng cơ sở cát cứ chống lại triều đình Lê - Trịnh, mà là thực hiện một sứ mệnh cao cả của triều đình giao phó và trong thực tế Nguyễn Hoàng đã hoàn thành một cách trọn v n trọng trách với triều đình.
Đây cũng là giai đoạn Nguyễn Hoàng mở rộng thêm tầm nhìn, cách nghĩ, không loại trừ có những toan tính cá nhân, nhưng những toan tính cá nhân đó không 18 bắt đầu gầy dựng lực lượng ở phía Nam tạo thành thế đối trọng với chính quyền chúa Trịnh ở phía Bắc. Mầm mống của sự chia cắt giờ đây đã xuất hiện rõ ràng với cục diện phân tranh của hai thế lực Trịnh – Nguyễn và sau này là Đàng Ngoài (Tonkin) - Đàng Trong (Cochinchina). Sự phân mảnh quyền lực dưới dạng các thế lực cát cứ đã cho thấy sự cạnh tranh gay gắt, thậm chí là đối đầu trực diện giữa các tập đoàn phong kiến. Và cũng chính sự cạnh tranh này cũng góp phần đưa đến những diễn biến lịch sử mà hệ quả của nó là những nhân vật có tầm nhìn chiến lược một khi tận dụng được “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” sẽ có khả năng tạo nên thế tương quan lực lượng có lợi cho mình.
Nguyễn Hoàng là một người có tầm nhìn như vậy. Kể từ khi Nguyễn Hoàng được chấp thuận vào trấn thủ vùng Thuận Hóa, ông đã có những bước tiến hết sức phương hại đến sự phát triển chung của đất nước”. Phan Huy Lê – Đỗ Bang (đồng chủ biên) (2014), Nguyễn Hoàng – Người mở cõi, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. Về việc Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa, cũng có ý kiến cho rằng đây thực chất là toan tính đầy tính chính trị của Nguyễn Hoàng khi mà Đoan Quận Công đã theo lời Nguyễn Ư Dĩ: “Thuận Hóa là đất hiểm trở kiên cố, có thể giữ mình được.
Vậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ và là chánh phi Trịnh Kiểm) nói với Kiểm, xin vào trấn thủ Thuận Hóa, rồi sau sẽ mưu làm việc lớn”. Quốc sử quán triều Nguyễn (1993), Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I, quyển 1-6, NXB Thuận Hóa, Huế, tr. Tham khảo thêm tại Nguyễn Trọng Văn – Mai Phương Ngọc, “Góp phần nhìn nhận thêm về sự kiện Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hóa năm 1558” trong Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2008), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, ngày 18-19/10/2008, NXB Thế giới, Hà Nội, tr. 19 vững chắc để chuẩn bị cho sự nghiệp lâu dài - xây dựng và phát triển một chính thế cát cứ6.
Việc lựa chọn một vùng đất còn khá mới mẻ với những nguy cơ tiềm ẩn khó dự đoán chắc chắn không phải là một quyết định mang tính nhất thời của Đoan quận công. Quyết định đầy tính chiến lược của Nguyễn Hoàng đã cho thấy tầm nhìn sâu rộng của Chúa khi mà vùng đất Thuận Hóa mới mẻ vốn là nơi “Ô châu ác địa” là vùng đất có những thành phần xã hội rất phức tạp7. Tầm nhìn vượt thời đại, những chính sách khôn khéo và tài năng quản lý của Nguyễn Hoàng đã được chứng minh khi Đoan quận công đã “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nh nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy”8.
Có thể nói, tài năng của Nguyễn Hoàng đã có vai trò to lớn giảm thiểu đi những hạn chế từ những yếu tố bất định (thành phần dân cư, tập tục.) và càng củng cố 6 Nguyễn Cảnh Thị (2004), Hoan châu ký, NXB Thế giới, Hà Nội, tr. 7 “Nhân dân Thuận Hóa lúc bấy giờ gồm những thành phần rất phức tạp. Ngoài những người chăm lo cày cấy, làm ăn, còn có những người theo nhà Mạc, hoặc khuấy động cho nhà Mạc, những người tù đày, những du đãng, phiêu lưu, từ các miền Nghệ, Thanh hoặc xa hơn nữa xâm nhập qua các thời đại, đi tìm may mắn ở miền đất mới, những quan, quân bất mãn họ Trịnh hoặc là lầm lỗi bỏ chạy vào Nam, những thổ hào, thổ tù cường ngạnh, nhũng nhiễu lương dân, những người Chàm còn ở lại. Bấy nhiêu hạng người, Đoan Quận Công phải khai hóa họ, buộc họ phải yên ổn làm ăn, khiến họ tùng phục mình.
Công việc ấy không phải dễ dàng”. Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong (1558-1777), NXB Văn học, Hà Nội, tr. 8 Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Sđd, tr. 20 quyết tâm tạo nên một thể chế có khả năng ly khai dần với những giá trị phong kiến của Đàng Ngoài.
Song song với việc củng cố và mở rộng quyền lực trên đất liền, chúa Nguyễn cũng thực thi các chính sách cụ thể để mở rộng ảnh hưởng về phía biển. Nỗ lực này vừa để mở rộng quyền lực ra vùng biển, vừa nhằm củng cố thực lực trên đất liền và tạo những cơ sở ổn định để phát triển thế lực. Cũng từ giai đoạn này, quá trình “Nam tiến” của dân tộc nhìn từ phía biển bắt đầu được thể hiện rõ nét với những chính sách cụ thể. Góp phần to lớn vào tầm nhìn hướng biển của chúa Nguyễn là vai trò quan trọng của nhân tố kinh tế.
Nếu thiếu vắng nhân tố này, chúa Nguyễn chắc hẳn khó có thể triển khai các chính sách hết sức khôn khéo và mang tầm chiến lược. Những nhân tố góp phần vào “tầm nhìn hƣớng biển” của các chúa Nguyễn Những nhân tố góp phần hình thành “tầm nhìn hướng biển” của các chúa Nguyễn là những nhân tố mang tính cơ bản nhưng có ý nghĩa quyết định: mang tính gợi mở và đồng thời củng cố cho tầm nhìn và những quyết sách trên thực tiễn của chúa Nguyễn. Với ý nghĩa đó, việc xem xét những nhân tố cơ bản sẽ giúp hiểu rõ hơn thực tiễn triển khai các chính sách. 21 Một là, hòa cùng tư duy hướng biển (đặc biệt là thương mại đường biển) của các quốc gia phương Tây và châu Á.
Từ thế kỷ XV, những tiến bộ về khoa học – kỹ thuật đã tạo điều kiện cho các quốc gia châu Âu và châu Á lưu thông đường biển được thuận tiện hơn. Cũng trong thời kỳ này, việc mở mang Đàng Trong của các chúa Nguyễn cũng nằm trong bối cảnh của Kỷ nguyên thương mại (Age of commerce) (khoảng giữa thế kỷ XV đến khoảng cuối thế kỷ XVII)9. Trước thực tế “tính hướng biển của người Việt” được phản ánh khá ít ỏi trong chính sử (hay các nguồn tư liệu ít ỏi tiếng Việt khác), khá nhiều nhà nghiên cứu đã nghi ngờ về tầm nhìn đề cao ngoại thương của người Việt. Cùng với đó là nhận thức dưới góc độ quy chiếu ngược thông qua “căn cứ trên số lượng/ tần số người, hàng hóa và phương tiện vận chuyển, đặc tính vùng, miền.
để quyết định đến tính chất chuyên biệt này”10 cũng là cách tiếp cận thường được tiến hành để kiểm chứng về “tính hướng biển của người Việt”. Thế nhưng, việc chủ động hội nhập vào 9 Anthony Reid phân làm ba thời kỳ: Sơ kỳ (cuối XIV-1511), Trung kỳ (1511-1600) và Hậu kỳ (1600-1670). Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce, 1450-1680, New Haven and London: Yale University Press. Volume 1: The Lands below the Winds, 1988.
Southeast Asia in the Age of Commerce, Volume 2: Expansion and crisis, 1993. 10 Nguyễn Mạnh Dũng, “Nhìn lại mô hình phát triển kinh tế - xã hội Đàng Trong thế kỷ XVI – XVIII”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đóng góp của Khoa học Xã hội – Nhân văn trong phát triển kinh tế - xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam, 2011, tr. 22 “Kỷ nguyên thương mại” của các chúa Nguyễn trong thời kỳ này là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn. Những tiến bộ về tri thức và kỹ thuật hàng hải đã giúp các thương nhân Âu và Á có thể thực hiện các chuyến hải trình ra đại dương xa xôi.
Mạng lưới giao thương quốc tế thời kỳ này đã thu hút rất nhiều các quốc gia châu Á cùng gia nhập11. Những yếu tố ngoại sinh hay những tác động từ bên ngoài đã thu hút sự quan tâm của chúa Nguyễn và góp phần hình thành nên nhận thức của chúa Nguyễn về tầm quan trọng của hải thương; qua đó tạo niềm tin vững chắc để các chúa chủ động thi hành những chính sách cụ thể trong nỗ lực hòa vào tiến trình hội nhập thương mại biển. Có thể nói, những chính sách mở cửa ngoại thương của triều Minh (năm 1567) và chính quyền Mạc phủ (1592) đã mang lại những bài học và kinh nghiệm quý báu để chúa Nguyễn trên cơ sở đó áp dụng chính sách đối ngoại mở cửa và chú trọng phát triển kinh tế. Với tư duy cấp tiến về vị thế của Đàng Trong trong mối tương quan quyền lực khu vực, các chúa Nguyễn đã ý thức về việc tăng cường vị thế của vùng đất mới.
“Từ thời chúa Nguyễn Hoàng đã hình thành một tư duy chính trị hướng ngoại; một tầm nhìn 11 Nguyễn Văn Kim (2010), “Ứng đối của chính quyền Đàng Trong với các thế lực phương Tây”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Số 6, tr. 23 kinh tế, quân sự, văn hóa về biển”12. Từ đây, vươn ra biển để củng cố cho các hoạt động “Nam tiến” trên lục địa đã trở thành chính sách có ý nghĩa chiến lược. Hai là, kế thừa những kinh nghiệm và truyền thống thương mại biển của Chămpa.
Cũng cần nhìn nhận thêm rằng kinh nghiệm và truyền thống thương mại biển của người Chăm đã tạo động lực để chúa Nguyễn kế thừa và đẩy mạnh các hoạt động giao lưu buôn bán với nước ngoài.