Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của ký chủ mà nó ký sinh. Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc. Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu trùng) (Dương Công Thuận, 1995). Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới.
Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%). Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà. Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã. Sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tại tỉnh Lạng Sơn Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2, nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc.
* Địa hình: Huyện Cao Lộc nằm ở phía đông bắc tỉnh Lạng Sơn, có diện tích 643,8 km², Cao Lộc có địa hình cao nhất trong số các huyện thị của tỉnh Lạng Sơn, độ cao trung bình của toàn huyện khoảng 260m. Khu vực có 5 địa hình thung lũng là nơi cư trú và sản xuất của hàng nghìn hộ dân cư trong huyện. Huyện Hữu Lũng là huyện miền núi nằm ở phía Nam của thành phố Lạng Sơn, có diện tích 804 km². Hữu Lũng thuộc vùng núi thấp của tỉnh Lạng Sơn, địa hình được phân chia rõ giữa vùng núi đá và vùng núi đất.
Phần lớn diện tích ở vùng núi đá vôi. *Khí hậu: Khí hậu của huyện Cao Lộc và Hữu Lũng chia bốn mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm từ 21 - 22,70C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 270C - 320C, nhiệt độ trung bình mùa đông là 130C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 90C, có nơi, có ngày nhiệt độ xuống dưới -10C. Độ ẩm trung bình cả năm là 82%. *Điều kiện kinh tế - xã hội: Đặc điểm kinh tế - xã hội của hai huyện Cao Lộc và Hữu Lũng mang nét đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
Dân số hai huyện 201.608 người với thành phần dân tộc đa dạng như: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa… tương ứng với nhiều văn hóa, phong tục tập quán cũng như phương thức canh tác và chăn nuôi khác nhau. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 1. Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có hình dạng nhất định. Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó.
Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể. Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã. Gà là vật chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất. Bệnh được Ziemann phát 6 hiện lần đầu tiên vào năm 1898.
Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh. (1985), Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị trí trong hệ thống phân loại như sau: Ngành Protozoa Lớp Sporozoa Bộ Haemosporidia Họ Leucocytozoidae Giống Leucocytozoon Loài L. (2004) cho biết: hiện nay có khoảng 70 loài thuộc giống Leucocytozoon ký sinh và gây bệnh cho gia cầm. Đơn bào này ký sinh ở cả hồng cầu và bạch cầu.
Tác giả còn cho rằng Leucocytozoon caulleryi là loài đơn bào phổ biến nhất, ký sinh và gây bệnh cho gà ở khu vực Đông Nam Á và Châu Phi. Ngoài ra, loài L. simondi thường ký sinh ở thủy cầm và một số loài chim hoang dã ở châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Nam Á. Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999); Nguyễn Thị Kim Lan (2012), cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào.
Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm. 7 Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) cho biết: trong quá trình phát triển ở ký chủ cũng như ở vector trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có nhiều hình dạng khác nhau. Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và loài đơn bào Leucocytozoon. - Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elip nhọn 2 dầu, kích thước 10 - 15 µm.
Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (vector trung gian truyền bệnh). - Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm. - Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm. - Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích thước 350 - 400 µm.
- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích thước 20 - 25 µm. Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006); Phạm Sỹ Lăng và cs (2008), hai loài L. sabrazeis có hình dạng gần giống nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh. Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng.
Vòng đời của Leucocytozoon ở gà Saif Y. (2003) cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày. Noãn nang phát triển và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn (véc tơ trung gian truyền bệnh) trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu. Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005), các loài Leucocytozoon có vòng đời rất phức tạp, cần vector trung gian truyền bệnh là các loài dĩn thuộc giống Simulium spp. và Culiloides spp. Tùy đặc điểm thời tiết, khí hậu của từng vùng sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi. 8 Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu thể (Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày của dĩn thành noãn nang và cuối cùng thành thể bào tử (Sporozoite).
Thể bào tử chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày. Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu của vật chủ. Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont). Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte).
Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và vòng đời lại được lặp lại. Tuy nhiên, Lê Văn Năm (2011) lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ: * Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh (dĩn). Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này kết thúc trong vòng 3 - 4 ngày.
Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn giao tử đực và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi hút máu gia cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử. Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của dĩn. Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang (Oocyst). Toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối.
Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển thành 4 thoi trùng (Sporozoite). Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền 9 bệnh. Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh. Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe.
Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày. * Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm. Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế bào máu và theo máu đi khắp cơ thể. Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng: Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập thế hệ 1 (Schizont - 1).
Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti - erythrocyte).