Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tài nguyên rừng và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tài nguyên rừng Việt Nam là nước có vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam châu Á, có địa hình đồi núi chiếm khoảng 3/4 lãnh thổ với các độ cao khác nhau so với mặt nước biển, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên rừng được phân bố ở nhiều vùng, miền trên phạm vi cả nước và rất đa dạng phong phú về các chũng loại động vật, thực vật, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Tài nguyên rừng không những có giá trị cao về kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc điều hòa và cân bằng hệ sinh thái đối với môi trường sống trên trái đất, đồng thời có tác động quan trọng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Do đó, để hiểu rõ đặc điểm và khái niệm tài nguyên rừng, trước tiên cần phải hiểu tài nguyên rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên môi trường). Theo nghĩa rộng, tài nguyên môi trường bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho đời sống và sự phát triển của mình. Trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội loài người, ở bất kỳ giai đoạn nào thì hoạt động kinh tế của con người cũng thông qua quá trình sử dụng năng lượng để biến đổi vật chất từ dạng này chuyển sang dạng khác nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích cho cuộc sống. Trong khoa học môi trường, tài nguyên thiên nhiên được chia thành ba loại sau đây: - Tài nguyên tái tạo: 9 z Tài nguyên tái tạo là loại tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dựa vào trật tự tự nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin đó nữa.Jorgensen (1981) Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan.
Tài nguyên thiên nhiên tái tạo được có thể kể ra như: Tài nguyên sinh học, tài nguyên rừng, tài nguyên năng lượng mặt trời, tài nguyên nước, tài nguyên gió. - Tài nguyên không tái tạo: Là loại tài nguyên tồn tại một cách hữu hạn và sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Đó là các các khoáng sản, nhiên liệu hoá thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt.) các thông tin di truyền, các gen quí, hiếm bị mai một không giữ lại được là những nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được. -Tài nguyên vĩnh cửu: Là loại tài nguyên tồn tại vĩnh cửu trong tự nhiên, không phụ thuộc vào sự tác động của con người.
Tài nguyên vĩnh cửu có liên quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến năng lượng mặt trời. Có thể xem năng lượng mặt trời là nguồn tài nguyên vô tận, chúng ta có thể phân ra: + Năng lượng trực tiếp: Là nguồn năng lượng chiếu sáng trực tiếp, giá trị định lượng có thể tính được. + Năng lượng gián tiếp: Là những dạng năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trời bao gồm: gió, sóng biển, thuỷ triều, nhiệt mặt trời. 10 z Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên còn được phân loại như: Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển [35].
Theo khoản 1 Điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, năm 2004: “1. Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” [4]. Còn theo tác giả Nguyễn Thanh Huyền, thì “Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (gọi chung là quần xã sinh vật) [14]; v.
Tóm lại, dưới góc độ khoa học, theo người viết thì, tài nguyên rừng thực chất là một phần quan trọng của tài nguyên thiên nhiên và thuộc loại tài nguyên tái tạo được, nhưng nếu con người sử dụng không khoa học và không hợp hợp lý, thì tài nguyên rừng có thể bị hủy hoại hoặc suy thoái không thể tái tạo lại. Như vậy, từ khái niệm đã nêu có thể chỉ ra các đặc điểm của tài nguyên rừng như sau: Một là, tài nguyên rừng là một phần quan trọng của tài nguyên thiên nhiên; Hai là, tài nguyên rừng thuộc loại tài nguyên có thể tái tạo được, nhưng nếu sử dụng không khoa học và không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị hủy hoại hoặc suy thoái không thể tái tạo lại; Ba là, thông qua hoạt động kinh tế của con người, tài nguyên rừng được sử dụng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của tài nguyên rừng đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước và đối với sự cân bằng của môi trường sinh thái và sự sống còn của nhân loại. 11 z Từ các đặc điểm nêu trên của tài nguyên rừng, ta có thể nhận thấy điểm đặc biệt của loại tài nguyên rừng, đó là một trong những loại tài nguyên có thể tái tạo lại nếu chúng ta biết sử dụng nó một cách khoa học và hợp lý, nghĩa là trước khi khai thác tài nguyên rừng ta phải có qui hoạch loại rừng nào sẽ được khai thác, phải xây dựng kế hoạch và các phương án cụ thể cho việc khai thác.
Đồng thời, phải đánh giá toàn diện và khách quan sự tác động của việc khai thác tài nguyên rừng đối với môi trường sinh thái và sự tác động của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế, bên cạnh đó cần phải phải có biện pháp khôi phục và cải tạo tài nguyên rừng một cách hợp lý, để sau khi khai thác, tài nguyên rừng vẫn được duy trì và phát triển một cách ổn định và bền vững. Ngược lại nếu chúng ta khai thác tài nguyên rừng một cách bừa bãi, thiếu khoa học và không đánh giá đúng sự tác động trở lại của nó đối với môi trường sinh thái và sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia, đồng thời không có biện pháp duy trì, bảo vệ tài nguyên sau khai thác, thì tài nguyên rừng của nước ta sẽ vĩnh viễn không thể tái tạo lại, để lại hậu quả khôn lường cho xã hội mà thực tế như đã xảy ra trong những năm gần đây. Do đó, hơn bao giờ hết chúng ta phải khẩn trương tìm ra những giải pháp hữu hiệu để tái tạo và bảo vệ tài nguyên rừng của nước ta sao cho ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực, tạo động lực to lớn cho nền kinh tế đất nước ta phát triển một cách toàn diện và bền vững, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh và giàu đẹp. Tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự Việt Nam Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống của loài người, rừng có vai trò cân bằng hệ sinh thái, ổn định và điều hòa khí hậu, điều tiết nước giúp sự sống trên trái đất được duy trì bền 12 z vững.
Không những thế, rừng còn có giá trị cao về kinh tế, về khoa học đồng thời là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, là nguồn cung cấp nguyên liệu, vật liệu, dược liệu và các gen động thực vật quí, hiếm phục vụ cho các ngành khoa học như: y học, sinh học, hóa chất và cả cho ngành công nghiệp, ngành du lịch sinh thái mà ngày nay đang có chiều hướng phát triển mạnh trong những năm gần đây. Hơn thế nữa, rừng còn có tầm quan trọng chiến lược trong việc tạo phòng tuyến trấn thủ vững chắc trong lĩnh vực an ninh quốc phòng của đất nước. Theo thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, về việc công bố số liệu hiện trạng rừng toàn quốc năm 2012 (Diện tích rừng và cây lâu năm có tán che phủ và có tác dụng phòng hộ như cây rừng tính đến ngày 31/12/2012 trong toàn quốc), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Thống kê diện tích đất rừng của Việt nam tính đến năm 2012. Thuộc quy hoạch ba loại rừng Ngoài quy hoạch Đặc dụng Phòng Sản xuất Loại rừng Tổng cộng đất lâm TT (ha) hộ (ha) (ha) nghiệp (ha) (ha) 1 Tổng diện tích 13.1 Rừng tự nhiên 10.558 khép tán b Rừng trồng 398.031 chưa khép tán 2 Diện tích rừng để 13.199 tính độ che phủ (Nguồn: Website: http://www.vn) [33] 13 z Từ bảng thống kê về tổng diện tích ba loại rừng của nước ta hiện nay cho thấy: Nhìn chung, diện tích rừng có chiều hướng phục hồi trở lại, nhưng rừng tự nhiên của nước ta hiện nay đã bị giảm nhiều so với những năm trước giải phóng.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tổng diện tích rừng của nước ta vào năm 1945 là 14. Đến năm 1976 diện tích rừng tự nhiên giảm còn 11. Đến năm 2012 tổng diện tích rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn 10. Nếu so với số liệu được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố năm 2009 khoảng 13,2 triệu ha với độ che phủ 39,1% thì diện tích rừng hiện nay đã tăng xấp xỉ 300.
Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh giảm trầm trọng, hiện chỉ còn rất ít, chủ yếu còn ở những khu rừng phòng hộ, vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên, phần lớn rừng tự nhiên hiện nay còn lại là rừng nghèo có chất lượng kém. Diện tích rừng ngập mặn của nước ta cũng đã giảm hơn một nửa trong các thập kỷ trước và vẫn tiếp tục suy giảm trong những năm gần đây.