Chương 1: Những van đề lý luận về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình; Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình tại Việt Nam; Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện. II TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE BẢO HỘ QUYEN TÁC GIA, QUYEN LIÊN QUAN DOI VỚI CHUONG TRÌNH TRUYEN HÌNH 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu 1. Nhóm công trình nghiên cứu về chương trình truyền hình và hoạt động truyền hình Hiện nay, hầu như chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào xem xét và nghiên cứu các vấn đề lý luận về CTTH và hoạt động truyền hình dưới góc độ pháp lý.
Mặc dù vậy, những lý luận về CTTH và hoạt động truyền hình đã xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí truyền thông. Tiêu biểu, liên quan đến những vấn đề lý luận (khái niệm, đặc điểm, phân loại,.) về CTTH và hoạt động truyền hình, có thể ké đến những công trình sau: Cuốn sách “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn, xuất ban bởi NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011°. Day la mot trong những công trình nghiên cứu một cách toàn diện các van dé của báo chí truyền hình bao gồm vi tri, vai tro, lịch sử ra đời và phát trién của truyền hình, khái niệm, đặc trưng, nguyên lý của truyền hình, chức năng xã hội, kịch bản, quy trình sản xuất CTTH, các thé loại báo chí truyền hình.
Trong đó, tác giả đưa ra định nghĩa CTTH, đồng thời chỉ ra các đặc điểm của CTTH như tính thời Sự, tính phố cập và quảng bá,. Tuy nhiên, khái niệm và đặc điểm của CTTH và hoạt động truyền hình được đề cập và nghiên cứu trong cuốn sách dưới góc độ khoa học báo chí, truyền thông, mà không được đi sâu tìm hiểu và phân tích trên phương diện khoa học pháp lý. Cuốn sách “Sản xuất chương trình truyền hình” của tác giả Trần Bảo Khánh, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin năm 20037. Đây là cuốn sách giới thiệu chung về CTTH, quy trình sản xuất một CTTH, công nghệ 3 Dương Xuân Sơn (2011), “Giáo trình báo chí truyền hình”, NXB.
Đại học Quốc gia Hà Nội * Trần Bao Khánh (2003), “Sản xuất chương trình truyén hình”, Nhà xuất ban Văn hoá Thông tin 12 sản xuất các CTTH, công nghệ phân phối các CTTH, một số thiết bị tiền kỳ và hậu kỳ trong công nghệ sản xuất CTTH. Cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”” của tác giả Dương Xuân Sơn, mặc dù không phải là công trình nghiên cứu trong lĩnh vực pháp lý, nhưng, thông qua các vấn đề nghiên cứu về CTTH của cuốn sách này đã hỗ trợ rất nhiều cho tác giả trong việc năm được khái niệm và đặc điểm của CTTH và hoạt động truyền hình, cũng như quy trình sản xuất và cách thức khai thác, phân phối một CTTH. Đây là cơ sở giúp NCS xác định được vai trò và nội dung bảo hộ QTG, QLQ đối với hoạt động truyền hình, cũng như tìm ra các yếu tố đặc thù gây khó khăn cho việc thực thi các quy định về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH trong quá trình đó. Nhóm công trình nghiên cứu về bảo hộ quyên tác giả, quyển liên quan doi với chương trình truyền hình Các công trình công bố tại nước ngoài tiêu biểu như: cuốn sách “Copyright: Intellectual Property in the Information Age” của Ploman, Edward W.
Clark Hamilton do London: Routledge & Kegan Paul ấn hành năm 1980°; Sách “Rethinking copyright: history, theory, language” của Ronan, Deazley, Edward Elg r Publishing nam 2006’; Sach “A Phillosophy of Intelle tul 1 Property” của Peter Drahos (ANU Press 2016)*; Sách The Economic Structure of Intellectual Property, cua William M. Posner, Belknap Press of Harvard University Press, 2003”; Sach A Philosophy of Intellectual > Dương Xuân Son (2011), “Giáo trinh bdo chí truyén hình”, NXB. Dai hoc Quốc gia Hà Nội ® Cuốn sách “Copyright: Intellectual Property in the Information Age” của Ploman, Edward W. Clark Hamilton do London: Routledge & Kegan Paul ấn hành năm 1980 7 Ronan, Deazley, Edward Elg r Publishing (2006), “Rethinking copyright: history, theory, language”, https://www.com/shop/gbp/rethinking-copyright-978 1845422820.html , Truy cập tháng 10/2020 8 Peter Drahos (ANU Press 2016), A Phillosophy of Intelle tul l— Property”, https://translate.com/website?sl=en&tl=vi&hl=vi&prev=search&u=http://press.au/publications/philosoph y-intellectual-property, Truy cap thang 10 nam 2020 ? William M.
Posner (2003), “The Economic Structure of Intellectual Property Belknap Press of Harvard University Press 13 Property, cua Peter Drahos, Dartmouth Publishing, Aldershot, 1996!°. Các công trình kế trên đã làm rõ lĩnh vực bảo hộ của QTG đối với những san pham sáng tạo chủ yếu thuộc lĩnh vực văn hóa, liên quan đến truyền thông đại chúng. Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra những vấn đề phát sinh trong bảo hộ QTG, QLQ đối với các sản phẩm nghệ thuật sáng tạo. Những vấn đề bảo hộ QTG, QLQ này không chỉ ở một quốc gia mà cần có sự hợp tác, hỗ trợ của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các tập đoàn viễn thông trong phòng chống xâm phạm QTG, QLQ.
Bảo hộ QTG đối với định dạng CTTH là vấn đề đặt ra không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là vẫn đề của toàn thế giới. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về định dạng CTTH như tác phẩm “Free to Air? Legal Protection for TV Program Formats” (2010) của Neta-li E. Gottlieb - Trường Dai học Luật Chicago (Mỹ)'', “The Protection of Television Formats: Intellectual Property & Market based Strategies” (2010) cua Sukhpreet Singh - Truong Dai hoc Bournemouth (Vuong quốc Anh)'”. va cả các báo cáo của Hiệp hội Công nhận và Bảo vệ Định dạng FRAPA hợp tác với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thé giới WIPO.
Ké từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thuong mại thế giới vào năm 2005, gia nhập Công ước Berne bảo hộ các tác phẩm van học, khoa học và nghệ thuật cuối năm 2004, vấn đề bảo hộ QTG, QLQ ngày càng thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề bảo hộ QTG, QLQ đối với các CTTH còn khá mới mẻ và hầu như chưa được đề cập đến. Các nghiên cứu về bảo hộ QTG, QLQ đang chủ yếu tập trung đến các van dé bảo hộ QTG, QLQ trong bối cảnh chuyển đổi số hoặc các !9 Deter Drahos (1996), “A Philosophy of Intellectual Property”, Dartmouth Publishing, Aldershot, tr. Gottlieb (2010), “Free to Air? Legal Protection for TV Program Formats”, Trường Đại học Luật Chicago (My) '? Sukhpreet Singh (2010), “Zhe Protection of Television Formats: Intellectual Property & Market based Strategies”, Trường Dai hoc Bournemouth (Vương quốc Anh) 14 vấn đề về bảo hộ QTG, QLQ đối với các tác phẩm điện ảnh, định dạng CTTH, to chức phat sóng.
Cụ thé như sau: Ở cấp độ bai báo khoa học, tham luận hội thảo, liên quan đến van dé bảo hộ QTG, QLQ có thê kế đến một số công trình tiêu biểu sau: Bài viết “Bảo hộ QTG và QLQ trong lĩnh vực xuất bản, sản xuất bản ghi âm, ghi hình — những van đề lý lụân và thực tiễn” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Quế Anh, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, đã thông qua thực tiễn bảo hộ QTG, QLQ tại Việt Nam, đề cập và phân tích thực tiễn hoạt động bảo hộ QLQ trong lĩnh vực sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Trong đó, một số vụ việc tranh chấp điển hình liên quan đến QLQ trong lĩnh vực sản xuất bản ghi âm, ghi hình (tranh chấp QLQ giữa Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV) và ca sĩ Mỹ Tam, tranh chấp QLQ giữa RIAV với NOKIA và FPT online) được tác giả đi sâu bình luận để làm rõ thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ. Bài viết “Bảo vệ QTG, QLQ trong lĩnh vực truyền hình” của tác giả Nguyễn Văn Giang, Đài Truyền hình Việt Nam. Bài viết có phạm vi nghiên cứu là thực trạng bảo hộ QTG, QLQ trong lĩnh vực truyền hình.
Theo đó, tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động bảo hộ QTG, QLQ dưới góc độ của các chủ thé tham gia vào hoạt động này. Cụ thé, tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động bảo hộ QTG, QLQ với tư cách người sử dụng tác phâm dé phát sóng, bao gồm hoạt động bảo hộ QTG, QLQ đối với tiếp sóng, phát sóng các chương trình, kênh chương trình của các Đài Truyền hình, hãng truyền thông quốc tế dưới hình thức mua bản quyền hoặc thoả thuận được tiếp sóng, phát sóng và bảo hộ QTG, QLQ với tư cách là người sử dụng các tac phâm của các Đài 8 Nguyén Thi Qué Anh (2010), “Bao hộ OTG va QLQ trong lĩnh vực xuất bản, sản xuất bản ghi âm, ghi hình — những van đề lý luân và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Báo hộ OTG và QLO ở Việt Nam trước yêu cau hội nhập kinh té quốc tế”, Trường Đai học Luật Hà Nội, năm 2010, do Tiến sĩ Vũ Thị Hải Yến làm chủ nhiệm '4 Nguyễn Văn Giang (2010), “Báo vệ OTG, QLQ trong lĩnh vực truyền hình”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Bao hộ OTG và QLQ ở Việt Nam trước yêu câu hội nhập kinh tế quốc te”, Trường Dai hoc Luật Hà Nội, năm 2010, do Tiến sĩ Vũ Thị Hải Yến làm chủ nhiệm 15 truyền hình, các tác giả trong nước để tiếp sóng, phát sóng và sản xuất chương trình để phát sóng. Tác giả cũng bình luận về thực trạng hoạt động bảo hộ QTG, QLQ của Đài Truyền hình Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu CTPS bằng việc đi sâu phân tích các vụ việc và hình thức xâm phạm điển hình, phổ biến về QTG, QLQ của các tổ chức, cá nhân đối với Đài truyền hình Việt Nam và các hình thức xử lý vi phạm của Đài truyền hình Việt Nam đối với các đơn vị, cá nhân có hành vi xâm phạm QTG, QLQ thuộc quyền sở hữu của Đài truyền hình Việt Nam. Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu đến một số vấn đề liên quan đến bảo hộ QTG, QLQ đối với các sản phâm văn hóa như: Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo hộ QTG đối với tác phâm âm nhạc trong môi trường Internet ở Việt Nam và kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới” năm 2018 của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Đại học Luật Hà Nội”; Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo hộ QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam” năm 2018 của tác giả Nguyễn Van Binh, Trường dai học Luật — Dai học Huế!