Chương 1: Một số van dé lý luận về bảo vệ quyền của người khuyết tật và pháp luật về bảo vệ quyền của người khuyết tật. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hải Dương. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người khuyết tật tại tỉnh Hải Dương. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ QUYEN CUA NGƯỜI KHUYET TAT VA PHAP LUAT VE BẢO VE QUYEN CUA NGUOI KHUYET TAT 1.
Một số van dé lý luận về bảo vệ quyền của người khuyết tật 1. Khái niệm và đặc điểm người khuyết tật 1. Khái niệm người khuyết tật Khuyết tật là hiện tượng tự nhiên đã xuất hiện từ xa xưa và luôn tồn tại trong thế giới loài người. Để nói về “khuyết tật” trong các văn bản quốc tế thường dùng từ “disability” và "handicap".
Hai từ nay ban đầu được sử dụng nhéu và phố biến, tuy nhiên lại dé lẫn lộn với nhau. Cho đến năm 1980, WHO đã thông qua sự phân loại trên phạm vi quốc tế về các khái niệm "impairment". Phan loại quốc tế về Khiếm khuyết, Khuyét tật và Tàn tật (ICIDH) đã thé hiện được sự phân biệt, phân cấp quan trọng về những cách gọi kế trên. Theo đó, “impairment” gọi chung theo Tiếng Việt là khiếm khuyết nói chung.
“Disability” theo Tiếng Việt là “giảm khả năng” hoặc “không có khả năng” — “là bất kỳ giới hạn hoặc mat chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường đối với một con người ” [25, tr. "Handicap" nghĩa theo Tiếng Việt là “tan tật”, “tan phế ” hay “tinh trạng tật nguyên nghiêm trọng ”— “là tình thé bat lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật làm hạn chế việc thực hiện một vai trò được coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tô xã hội và văn hoa” [25, tr. Tuy nhiên qua thời gian sử dụng, việc phân loại này dẫn đến nhiều bất cập khi không phân cấp được rõ các mức độ này và cách tiếp cận này mới chỉ ở khía cạnh theo mô hình y tế. Sau nhiều năm sửa đổi, hoàn thiện, đến năm 2001, WHO đã phê duyệt ban hành đối tên thành Phân loại quốc tế về Chức năng, khuyết tật và Sức khỏe (International Classification of Functioning, Disability and Health).
Mô hình ICF đưa ra khái niệm rằng mức độ chức năng của một người là một mối quan hệ tương tác, tác động giữa tình trạng sức khỏe của người đó với các yêu tố môi trường và các yếu tố cá nhân. Day là một mô hình sinh lý-tâm lý-xã hội, dựa trên sự kết hợp các mô hình xã hội và can thiệp. Theo mô hình này, WHO định nghĩa khuyết tật như sau: “Disability is an umbrella term for impairments, activity limitations and participation restrictions. It denotes the negative aspects of the interaction between a person’s health condition(s) and that individual’s contextual factors (environmental and personal factors)” [57].
Dich sang tiếng Việt là: Khuyết tật là thuật ngữ chung chi tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và hạn chế tham gia. Nó biểu hiện hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa tình trạng sức khỏe của cá nhân với các yếu to hoàn cảnh của người đó (bao gom yếu tố môi trường và các yếu tổ cá nhân khác). Người khuyết tật đã chiến đấu chống lại những rào cản về thể chất và tinh thần trong nhiều thé kỷ. Ban đầu, người khuyết tật được coi là đối tượng được chăm sóc, hỗ trợ, trợ giúp theo chiều hướng là đối tượng phúc lợi xã hội theo mô hình “chăm sóc y té” từ những năm 1950.
Mô hình này cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú trọng rất ít hoặc không dé ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thé xung quanh người khuyết tật. Quan niệm này cho rằng người khuyết tật có thê hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công nghệ cải thiện chức năng. Nhìn chung, mô hình y tế này nhìn nhận người khuyết tật như những người có van đề về thé chất và cần phải chữa trị. Từ những năm 1970 trở lại đây thì người ta quan tâm hơn tới người khuyết tật và coi họ như một chủ thé bình thường với những quyền con người 10 như quyền sống, quyền lao động, quyền giáo dục,.
tương đương như người bình thường. Đây được gọi là mô hình xã hội. Quan điểm này được bắt đầu từ nước Mỹ. Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “Người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tỉnh thân gây ảnh hưởng đáng kề đến một hay nhiễu hoạt động quan trọng trong cuộc song”.
Theo mô hình này, khuyết tật đươc nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt. Người khuyết tật phải đối mặt với một số phân biệt đối xử xã hội về thái độ, môi trường và thể chế. Mô hình xã hội về khuyết tật cho răng, nhiều người bị khiếm khuyết theo nhiều cách khác nhau nhưng xã hội biến tất cả họ thành khuyết tật. Nói cách khác, mô hình xã hội coi khuyết tat là van dé xã hội, gắn liền với xã hội, giải pháp là phải thay đổi xã hội.
Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tật dùng dé chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm không phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kế do hậu quả của một khiếm khuyết về thé chất và tâm than được thừa nhận ” [35, Điều 1]. Theo quan điểm của Tổ chức quốc tế người khuyết tật (DPI, 1982), người khuyết tật trở thành khuyết tật là do thiếu cơ hội dé tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác. Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thê và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sông [45, tr. Còn ở Việt Nam, ngày 17/06/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011 chính thức sử dụng khái niệm người khuyết tật.
Khái niệm này thay thế cho khái niệm người tàn tật mang tính tiêu cực trước đó tại Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998. Theo quy 11 định tại Khoản 1 Điều 2 luật này, “Người khuyết tật là người bị khiém khuyết một hoặc nhiễu bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dang tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm này theo pháp luật Việt Nam tiếp cận chủ yếu về người khuyết tật theo góc độ y tế, người khuyết tật mang hơi hướng cá nhân mà không xác định sự ảnh hưởng của môi trường, xã hội. Người khuyết tật theo đây vẫn khó hòa nhập với cộng đồng, xã hội khi pháp luật vẫn coi khuyết tật là những rào cản ngăn không dé người khuyết tật tham gia vào xã hội.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam đã dần tiếp cận quan điểm về người khuyết tật dưới góc độ xã hội khi năm 2015, Việt Nam đã phê chuân CRPD năm 2006. Điều 1 CRPD năm 2006 có thé coi như đã đưa ra một định nghĩa hợp lý nhất về người khuyết tật — “Người khuyết tật bao gầm những người có khiếm khuyết lâu dài về thé chất, tâm than, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” [18, Điều 1]. Dù cho có tiếp cận theo hướng nào, quan điểm nào, định nghĩa về người khuyết tật cần thiết nhất là phản ánh được trực quan việc người khuyết tật có khiếm khuyết về sức khỏe và họ gặp phải những rào cản từ môi trường, xã hội, từ đó cho thấy việc quan trọng nhất là bảo vệ được quyền của người khuyết tật trên mọi phương diện. Đặc điểm của người khuyết tật Từ việc khái quát định nghĩa về người khuyết tật, ta có thé xác định khá rõ ràng những đặc điểm mà chủ thé này chứa đựng.
Người khuyết tật trước hết là con người và cũng mang đặc điểm như một con người đúng nghĩa, điều đặc biệt đây là nhóm cư dân đặc biệt phải chịu thiệt thoi về nhiều mặt kinh tế, xã hội, nhân quyên. Thứ nhất, sự khiếm khuyết sức khỏe của người khuyết tật. Sự khiếm 12 khuyết ở người khuyết tật có thể là về thể chất hoặc tâm thần, trí tuệ. Sự khiếm khuyết này gây ảnh hưởng lớn hoặc nhỏ tới sức khỏe, tâm sinh lý và việc thực hiện chức năng con người ở họ, gây nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày.
Khiếm khuyết này có thé nhìn thấy hoặc không thé nhìn thấy mà phải thực hiện đo lường bằng nhiều phương pháp khoa học. Những khiếm khuyét đó thé hiện bằng dang tat với nhiều mức độ khác nhau. Có thé kế đến những dang tật phô biến được nhiều nước trên thế giới công nhận như khuyết tật vận động, khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn, khuyết tật trí tuệ. Khuyết tật vận động là người có cơ quan vận động bị tôn thương, biểu hiện dễ nhận thấy là khó khăn trong hoạt động di chuyên, cam nam,.
Họ sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, khi làm việc, vui chơi, học tập. Khi đó họ cần được hỗ trợ bởi một vài phương tiện dé hỗ trợ cho phan bị khuyết tật đó. Khuyết tật nghe, nói là những người có khó khăn đáng kê về nghe, nói, dẫn đến hạn chế trong giao tiép, đọc viết, từ đó dẫn đến những hạn chế trong sinh hoạt, làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng [22; tr. Đối với những người khiếm thính họ cần được hỗ trợ máy trợ thính dé có thé nghe dugc, va học ngôn ngữ ký hiệu trong giao tiếp đối với người bi câm, điếc; hoặc có thé học phương pháp đọc khẩu hình đối với những người khiếm thính nhẹ.
Người khuyết tật về nghe, nói thường rất khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ giao tiếp và tiếp nhận, trao đồi thông tin, bởi ngôn ngữ của họ là ngôn ngữ ký hiệu. Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị) là những người có tật về mắt làm cho họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng [22; tr.