Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Nhận thức chung về quyền của người khuyết tật 1. Quan niệm về quyền của người khuyết tật Người khuyết tật là nhóm người dễ bị tổn thương, là một bộ phận dân cư và tồn tại khách quan trong lịch sử loài người. Ngân hàng thế giới ước tính có khoảng 10% dân số thế giới (khoảng 650 triệu người) phải sống chung với những khuyết tật và có sự khác nhau giữa các vùng, các nước và chủ yếu tập trung ở các nước kém phát triển.
Theo số liệu báo cáo của UNDP, ước tính mỗi năm có thêm gần 10 triệu người khuyết tật và dự báo đến năm 2035 số người khuyết tật trên thế giới sẽ lên tới 667 triệu người [113, tr. Cách nhìn nhận về người khuyết tật có những thay đổi nhất định qua từng thời kỳ. Nếu như những năm 1950, người khuyết tật được nhìn nhận theo mô hình “chăm sóc y tế”, theo đó vấn đề người khuyết tật là vấn đề phúc lợi xã hội và họ là đối tượng cần được hỗ trợ, chăm sóc, được hưởng trợ giúp chứ không phải là chủ thể có quyền như công dân bình thường thì những năm 1970 cách nhìn nhận người khuyết tật đã có sự thay đổi, theo đó những người khuyết tật là những người có khả năng, có quyền sống và lao động như những người bình thường chứ không phải là một đối tượng cần nhận sự “ban ơn” của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về người khuyết tật.
Trên thế giới có hai quan điểm chính về người khuyết tật song song cùng tồn tại, đó là quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội. Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế (y học) cho rằng khuyết tật là hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, mà hầu như không chú ý tới các yếu tố xã hội. Ngược lại, quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội, những người khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt [91]. Từ những cách nhìn nhận khác nhau về người khuyết tật cùng với điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử phát triển cũng như kĩ thuật lập pháp từng quốc gia mà pháp luật quốc tế cũng như quốc gia có định nghĩa khác nhau về người khuyết tật.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 định nghĩa“Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hay giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” [38, Điều 1]. Công ước số 159 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ người mà khả năng tìm thấy một việc làm phù hợp, gắn bó lâu dài với công việc đó cũng như triển vọng thăng tiến về nghề nghiệp đều bị giảm sút đáng kể do một sự khiếm khuyết về thể chất hoặc tâm thần được công nhận rõ ràng”[80, Điều 1, Khoản 1]. Khái niệm người khuyết tật theo quan điểm của Tổ chức quốc tế người khuyết tật (DPI, 1982): Người khuyết tật trở thành khuyết tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác. Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống [92, tr.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1999, người khuyết tật là người bị suy giảm chức năng ở ba mức độ là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Trong đó, khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ [91].
Theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: Khiếm khuyết về vận động; Khiếm khuyết về thị giác, Khiếm khuyết về nói và nghe, Chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, Các bệnh lây và không lây như Bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) [74]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hay Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật năm 1990 ghi nhận: Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường. Người khuyết tật là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác [31, Điều 2].
Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2010 đưa ra định nghĩa về người khuyết tật: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [70, Điều 2, Khoản 1]. Theo đó, đối tượng xác định là người khuyết tật dựa vào việc bộ phận cơ thể bị suy giảm chức năng biểu hiện dưới dạng tật (khiếm thính, khiếm thị, tật nguyền, người bị tâm thần, thiểu năng trí tuệ…) và gây khó khăn cho việc lao động, học tập, sinh hoạt bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do bệnh tật, tai nạn, thương binh, bệnh binh… Như vậy, tùy thuộc vào việc ủng hộ quan điểm khuyết tật cá nhân hay khuyết tật xã hội mà mỗi quốc gia có nhìn nhận không giống nhau về người khuyết tật. Tuy vậy, dù có ủng hộ quan điểm nào đi chăng nữa thì khi định nghĩa về người khuyết tật cũng phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi họ tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội. Người khuyết tật có một số những đặc điểm riêng về tâm, sinh lý và sức khỏe so với người bình thường cộng thêm nhận thức và thái độ kì thị của xã hội khiến họ dễ cảm thấy tự ti và mặc cảm về bản thân.
Chính vì vậy, người khuyết tật cần được nhà nước, gia đình và xã hội trợ giúp, tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng để tiếp cận và hưởng thụ các quyền bình đẳng với mọi công dân khác, vươn lên làm chủ cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người khuyết tật trước hết là con người trong xã hội nên họ cũng có các quyền cơ bản của một con người nhưng do bị khiếm khuyết về mặt thể chất hay tâm thần nên họ có một số các quyền đặc thù theo luật định. Quan niệm về quyền của người khuyết tật có sự thay đổi cách tiếp cận trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia. Ngay từ khi ban hành những văn bản pháp lý đầu tiên, Liên hợp quốc (UN) luôn khẳng định sự thiết yếu của việc tôn trọng và thực hiện các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người và không phân biệt thành phần, giới tính, tôn giáo hay tín ngưỡng [33, Điều 1]… Các quyền của người khuyết tật được đặt trên cơ sở các quy định phổ quát đó.
Trong những năm 1940 và 1950, UN mới chỉ tập trung vào việc thúc đẩy các quyền của người khuyết tật về thể chất thông qua các phương pháp tiếp cận an sinh xã hội [115]. Hiến chương và các công ước về quyền con người được các nước phê chuẩn từ giữa những năm 1940 cho đến cuối những năm 1960 (ví dụ Tuyên ngôn Quốc tế của Liên Hợp Quốc về nhân quyền năm 1948, Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Kinh tế, Văn hóa, Xã hội năm 1966, và Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966…) chưa có các quy định riêng đề cập đến người khuyết tật. Tuy nhiên, Tuyên ngôn quốc tế của Liên hợp quốc về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu” [34, Điều 1].
Tuyên ngôn này cũng liệt kê tất cả các quyền mà con người được hưởng bao gồm các quyền trong các lĩnh vực dân sự, chính trị; quyền kinh tế, văn hóa và xã hội.Theo quy định này thì người khuyết tật cũng phải được hưởng những quyền lợi cơ bản mà mọi người trong xã hội được hưởng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, người khuyết tật vẫn phải đối mặt với nhiều bất lợi, tình trạng họ bị tách biệt khỏi xã hội, cũng như tình trạng họ bị phân biệt đối xử mới được nhận thức rõ ràng hơn và đã được nêu thành một vấn đề về quyền của người khuyết tật. Việc dần thay đổi từ cách tiếp cận phúc lợi xã hội sang cách tiếp cận dựa vào quyền con người được thể hiện thông qua việc đề cập một cách cụ thể về người khuyết tật trong các Hiến 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương, các Công ước và các sáng kiến về quyền con người được phê chuẩn từ những năm 1980 và trong ngày càng nhiều các văn bản luật pháp quốc tế (thường không mang tính bắt buộc) được các tổ chức như Liên Hợp Quốc và Ủy ban Châu Âu thông qua [107, tr.