MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Quyền con ngƣời là một giá trị thiêng liêng, đƣợc cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu. Bảo vệ quyền con ngƣời nói chung và bảo vệ quyền con ngƣời bằng pháp luật hình sự là vấn đề đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và coi trọng. Vấn đề này đã đƣợc ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ƣớc Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR),….
Nƣớc ta đang trong giai đoạn xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và cải cách tƣ pháp, việc bảo vệ quyền con ngƣời nói chung và bảo vệ quyền con ngƣời bằng pháp luật hình sự nói riêng luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm và thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nƣớc ta. Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” đã khẳng định: Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tƣ pháp ngày càng cao, các cơ quan tƣ pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con ngƣời, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm [5]. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã đặt ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tƣ pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời [26, tr. 53]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã xác định rõ: Xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tƣ pháp… Tiếp tục thực hiện 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiến lƣợc cải cách tƣ pháp, xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân… [27, tr.
Để bảo vệ quyền con ngƣời Nhà nƣớc sử dụng nhiều công cụ khác nhau, nhƣng quan trọng và hiệu quả nhất vẫn là Pháp luật, đây là phƣơng tiện, là công cụ sắc bén của Nhà nƣớc trong việc thực hiện bảo vệ quyền con ngƣời. Tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện bảo vệ quyền con ngƣời đƣợc thể hiện: các quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận một cách đầy đủ và toàn diện nhất trong các văn bản pháp luật, đối với hành vi xâm phạm các quyền con ngƣời đƣợc pháp luật bảo vệ đều bị phát hiện nhanh chóng, chính xác xử lý kịp thời. Mục đích của nhà nƣớc và xã hội mọi tội phạm đều bị xử lý, ngƣời phạm tội phải chịu TNHS, trên thực tế không phải tất cả các trƣờng hợp phạm tội đều giống nhau. Để cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, luật hình sự Việt Nam cũng đồng thời phân hóa các trƣờng hợp phạm tội, các đối tƣợng phạm tội khác nhau để có đƣờng lối xử lý phù hợp, nhanh chóng, chính xác và công bằng.
Đặc biệt, sự phân hóa các trƣờng hợp phạm tội và ngƣời phạm tội còn thể hiện ở chỗ không phải tất cả các trƣờng hợp phạm tội hay tất cả những ngƣời phạm tội đều bị truy cứu TNHS. Nhiều trƣờng hợp mặc dù hành vi của con ngƣời về hình thức có các dấu hiệu của tội phạm cụ thể, nhƣng khi xem xét lại thấy những hành vi đó có một số tình tiết nhất định làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và hành vi đó không nhất thiết phải đƣa ra xét xử, điều đó đòi hỏi trong Bộ luật hình sự phải bao hàm các hình thức xử lý khác nhau và ở một chừng mực nhất định vừa phải thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và ngƣời phạm tội - để có đƣờng lối xử lý phù hợp, chính xác và công bằng. Chế định các trƣờng hợp miễn trách nhiệm hình sự đóng vai trò rất 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng trong việc bảo vệ quyền con ngƣời, thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo của chính sách hình sự nƣớc ta. Chế định này cũng góp phần nâng cao trình độ pháp lý cho ngƣời làm công tác bảo vệ pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Qua thực tiễn cuộc đấu tranh phòng trống tội phạm cho thấy một số quy định của BLHS hiện hành về chế định các trƣờng hợp miễn TNHS vẫn còn chƣa đầy đủ, chƣa chặt chẽ về nội dung, việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn. Cá biệt còn có những trƣờng hợp ở các địa phƣơng khác nhau, các cơ quan khác nhau lại vận dụng các qui định của pháp luật khác nhau, do đó cần có sự hƣớng dẫn kịp thời và thống nhất của các cơ quan tƣ pháp hình sự có thẩm quyền. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam từ góc độ lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế cũng nhƣ công cuộc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta. Từ những vẫn đề nêu trên thì việc nghiên cứu đề tài: “Bảo vệ quyền con người bằng chế định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam” là cần thiết và mà mang tính cấp thiết góp phần hoàn thiện về mặt pháp luật, tạo sự thống nhất ở các cơ quan tƣ pháp, giúp cho việc xây dựng, áp dụng pháp luật đƣợc thống nhất và đồng bộ hơn.
Qua đó nâng cao vai trò, hiệu quả bảo vệ quyền con ngƣời của chế định này, đây là lý do thúc đẩy ngƣời viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong khoa học pháp lý Việt Nam, vấn đề bảo vệ các quyền con ngƣời bằng pháp luật chuyên ngành và chế định miễn trách nhiệm hình sự đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu với các góc độ, mức độ và cấp độ nghiên cứu khác nhau, cụ thể: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự có các công trình nghiên cứu sau 1) GS.TSKH Lê Văn Cảm (2010), Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam trong sách “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh 2) TS. Trần Quang Tiệp (2004), Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia.TSKH Lê Cảm (2006), “Những vấn đề lý luận bảo vệ quyền con ngƣời bằng pháp luật trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự”, đăng trong Tạp chí Tòa án nhân dân (số 11) tháng 6/2006; 4) PGS.
TS Phạm Văn Tỉnh (2012), “Quyền con ngƣời về mặt tƣ pháp hình sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 6). 5) Nguyễn Minh Tuấn (2012), “Công ƣớc quốc tế về bảo vệ quyền con ngƣời trong hoạt động tƣ pháp”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (số chuyên đề về hội nhập quốc tế)… 6) GS.TSKH Lê Văn Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, Ths Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì (2005), Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội; 7) GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ trì (2013), Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tư pháp về hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật, đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội; 8) Nguyễn Huy Hoàn (2004), Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ luật học bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9) Giáp Mạnh Huy (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học do GS.TSKH Lê Văn Cảm hƣớng dẫn, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. 10) Phùng Thị Thanh Mai (2014), Bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự, Luận văn Thạc sỹ Luật học do GS.TSKH Lê Văn Cảm hƣớng dẫn, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. 11) Tạ Xuân Trà (2014), Bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học do GS.TSKH Lê Văn Cảm hƣớng dẫn, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội… 2.
Nghiên cứu về chế định miễn TNHS có các công trình nghiên cứu sau đây 1) Lê Cảm (2001), "Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999", Tòa án nhân dân, (1). 3) Lê Cảm (2002), "Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999", Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 5) Nguyễn Ngọc Chí (1997), "Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam", Khoa học (khoa học xã hội), (4). Trịnh Tiến Việt (2009), Về chế định miễn TNHS trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Tạp chí kinh tế Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội, tháng 11-2009. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trịnh Tiến Việt (2013), Pháp luật hình sự Việt Nam về: Miễn trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật Hà Nội.