Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người trong tố tụng dân sự, kiểm sát và vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua kiểm sát các vụ việc dân sự 1. Những vấn đề cơ bản về quyền con người trong tố tụng dân sự Quyền con người là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm hàng đầu trong thời đại hội nhập ngày nay. Vấn đề bảo vệ quyền con người được mỗi quốc gia nói riêng và các nước trong khu vực, trên thế giới nói chung quan tâm, củng cố bằng việc ký kết các công ước quốc tế, các hiệp định đa phương, song phương và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trong đó có tố tụng dân sự. Tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quy trình, thủ tục, công đoạn có mối quan hệ chặt chẽ, liên tiếp với nhau để thông qua đó các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật, đưa ra các biện pháp cần thiết để giải quyết các tranh chấp dân sự một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự.
Tố tụng dân sự không tồn tại độc lập mà có có mối quan hệ chặt chẽ với luật dân sự. Nếu như dân sự được hiểu là các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản, thì tố tụng dân sự cũng xuất phát từ mối quan hệ nhân thân và tài sản song chỉ phát sinh khi có tranh chấp xảy ra và có nhu cầu giải quyết các tranh chấp đó. Các chủ thể tham gia trong mối quan hệ pháp luật dân sự và tố tụng dân sự đều giống nhau bởi luôn hướng đến các quyền dân sự, kinh tế mà chính đối tượng của quan hệ dân sự (tài sản và nhân thân) mang lại. Tuy nhiên, còn một bộ phận chủ thể khác, tham gia quan hệ pháp 18 Luan van luật tố tụng dân sự lại không xuất phát từ các lợi ích đó, mà nhóm chủ thể này tiến hành các thủ tục tố tụng vì lợi ích của hai bên đương sự (nguyên đơn và bị đơn).
Do đó, so với quan hệ dân sự thì mối quan hệ tố tụng dân sự mang tính chất đa dạng về chủ thể, đa dạng về quyền lợi và cứng nhắc về quy trình, thủ tục. Vì thế, nếu quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp mang tính tùy tiện, thiếu khách quan và không công minh quyền con người trong tố tụng dân sự tất yếu sẽ bị xâm hại. Theo đó, cách thức và cơ chế nhà nước thiết lập nên để giải quyết tranh chấp về dân sự cho công dân sẽ không trở thành công cụ để bảo vệ quyền con người. Hậu quả là bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa không được thể hiện qua các chức năng giải quyết tranh chấp dân sự.
Như vậy, quyền con người trong tố tụng dân sự đòi hỏi phải được tiếp cận trong tổng thể quyền dân sự của con người, gắn với toàn bộ quá trình tố tụng dân sự: Từ giai đoạn khởi kiện, nộp án phí, thụ lý đến giai đoạn xét xử, ra quyết định xét xử, ra bản án và thi hành án dân sự. Chính vì gắn với quyền dân sự, nên các tranh chấp dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là các tranh chấp vụ việc dân sự, mà còn là các tranh chấp trong quan hệ thương mại, hôn nhân gia đình, lao động v. Do đó, giải quyết tranh chấp dân sự trong tố tụng dân sự gồm cả giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại, lao động và hôn nhân gia đình. Đây là cách tiếp cận từ quyền dân sự, kinh tế trong Công ước quốc tế về quyền con người.
Quyền con người trong tố tụng dân sự thể hiện xuyên suốt và trải dài trong suốt quá trình diễn ra quan hệ tố tụng dân sự từ quyền được khởi kiện, được yêu cầu theo quy định của pháp luật, quyền được xem xét giải quyết vụ việc dân sự, quyền được đón nhận kết quả giải quyết công bằng, khách quan… Về lý luận, quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ những quyền tự nhiên của con người, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất. Cơ sở lý luận cũng như nội dung của luật thực định 19 Luan van về quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc tế và hệ thống pháp lý quốc gia.Cụ thể: Quyền con người trong tố tụng dân sự được Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người và một số Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ghi nhận. Đây là những nguyên tắc chung nhất để từ đó, con người có cơ sở tự bảo vệ và yêu cầu các nhà nước thành viên bảo vệ họ. Trong tố tụng dân sự, luật pháp quốc tế thừa nhận sự tham gia của ba nhóm người, tương ứng với ba nhóm quyền con người trong tố tụng dân sự: Nhóm quyền của các bên tranh chấp (quyền của nguyên đơn, bị đơn); nhóm quyền của người tiến hành tố tụng (điển hình là Tòa án).Tại công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị ghi rõ tại phần II về các nội dung cùa quyền con người trong dân sự đó là quyền được đối xử bình đẳng, quyền được bảo vệ khi có sự xâm phạm xảy ra, quyền được áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục các xâm phạm đó…Chính những công ước quốc tế này đã tạo cơ chế quan trọng để bảo đảm quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng dân sự nói riêng.
Cùng với pháp luật quốc tế, lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc gia. Theo đó, trong tố tụng dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự luôn xác định Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự là những nguồn cơ bản, hữu hiệu không chỉ điều chỉnh hành vi mà còn là những đảm bảo pháp lý về quyền con người trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Chức năng kiểm sát và vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự. Chức năng kiểm sát.
Về VKS nhân dân, Hiến pháp năm 2013 nước ta quy định: 20 Luan van “1. VKS nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. VKS nhân dân gồm VKS nhân dân tối cao và các VKS khác do luật định. VKS nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Cụ thể hóa Điều 107 Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức VKS nhân dân năm 2014 quy định chi tiết và rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong hệ thống các cơ quan nhà nước, theo đó, VKSND có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Như vậy, hoạt động của VKS có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tuân theo pháp luật, đảm bảo quyền con người trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến hoạt động tư pháp, từ hình sự, đến dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…Nếu như trong hình sự, VKS thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng hoạt động thực hành quyền công tố - tức là thực hiện việc buộc tội của nhà nước với người phạm tội và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc hình sự thì trong các hoạt động tư pháp khác, chức năng của VKS chỉ gói gọn trong chức năng kiểm sát. Khoản 1, Điều 4, Luật tổ chức VKS nhân dân 2014 quy định về chức năng kiểm sát của VKS là: “hoạt động của VKS nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.” Như vậy, với quy định này, luật tổ chức VKS nhân dân chưa 21 Luan van thực sự làm rõ nội hàm của khái niệm kiểm sát mà chỉ nêu ra phạm vi kiểm sát và mục đích kiểm sát của VKS nhân dân. Vậy hoạt động kiểm sát là gì? Trước hết, đây là hoạt động chỉ duy nhất VKS có thẩm quyền thực hiện.
Theo đó, VKS thông qua việc thực hiện hoạt động, nhiệm vụ do pháp luật quy định để kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp.Hình thức thực hiện chức năng kiểm sát của VKS có thể là kiểm sát trực tiếp, kiểm sát gián tiếp hoặc tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo phát hiện các vi phạm pháp luật và đưa ra hướng xử lý các vi phạm pháp luật đó bằng việc ban hành yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị. Nghiên cứu quy định Hiến pháp năm 2013 về VKS, cho thấy những điểm mới về tổ chức và thực hiện chức năng kiểm sát, chức năng công tố của VKS trong mối quan hệ với nhiệm vụ bảo vệ quyền con người: Thứ nhất, về hệ thống VKS nhân dân được sửa đổi phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định hệ thống VKS gồm:"VKS nhân dân tối cao, VKS nhân dân địa phương, các VKS quân sự”.Quy định này là nhằm xác định hệ thống VKS được tổ chức theo địa giới hành chính từ Trung ương xuống địa phương. Như vậy, ở Trung ương có VKS nhân dân tối cao, ở địa phương tương ứng với đơn vị hành chính cấp huyện hoặc cấp tỉnh thì có VKS cấp huyện hoặc VKS cấp tỉnh.
Bên cạnh đó, còn có các VKS quân sự cũng được tổ chức thành ba cấp gồm VKS quân sự Trung ương, VKS quân sự quân khu và VKS quân sự khu vực. Việc tổ chức hệ thống VKS nhân dân theo địa giới hành chính ra đời từ khi luật Tổ chức VKS nhân dân năm 1960 được ban hành.