Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Ngay sau chiến tranh thế giới thứ II, lần đầu tiên Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định giá trị quyền con người: Mọi thành viên trong gia đình, nhân loại đều có quyền bình đẳng và đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được. Các quyền này được thực hiện không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo, đồng thời được ghi nhận chính thức trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên Hợp quốc và được các thành viên của Tuyên ngôn này thừa nhận.
Tuy được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận nhưng không phải thời điểm nào tinh thần của Tuyên ngôn và các công ước về quyền con người cũng được vận dụng thống nhất do mỗi quốc gia có sự vận dụng linh hoạt bảo đảm tính phù hợp với thực tiễn. Các Công ước quốc tế về nhân quyền mà cụ thể là Tuyên ngôn Toàn thế giới năm 1948 về quyền con người là văn kiện pháp lý xác lập các tiêu chuẩn quốc tế cho việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Bằng việc phê chuẩn các công ước, các quốc gia chấp nhận và tự cam kết thực hiện các quyền con người ở phạm vi quốc gia. Hệ thống công ước về nhân quyền có ý nghĩa quan trọng ở cấp độ quốc gia, các chuẩn mực thỏa thuận quốc tế này đòi hỏi phải thực thi có hiệu quả ở tầm quốc gia, để bảo đảm chúng được thụ hưởng bởi tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ em trong mỗi quốc gia ấy.
Ý thức được giá trị của các công ước, hiện nay Việt Nam đã là thành viên của các công ước về quyền con người như: Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (năm 1981); Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác của chủ nghĩa Apácthai (năm 1981); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (năm 1982); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1982); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (năm 1982); Công ước quốc tế về quyền trẻ em (năm 1989); Công ước quốc tế về các quyền của Người khuyết tật (năm 2007)… và Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện pháp luật quốc gia về bảo vệ quyền con người (Luật Dân sự, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…), đặc biệt trong Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã dành riêng một chương (chương II) quy định về quyền con người. Với mục đích bảo đảm quyền con người và nghiêm trị những hành vi xâm phạm quyền con người cần phải có cách hiểu và áp dụng thống nhất vấn đề này. Quyền là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một xã hội nhất định. Chỉ có một quyền cơ bản đó là quyền con người - quyền của con người đối với đời sống cá nhân (quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, tất cả các quyền khác là kết quả hoặc hệ quả tất yếu của quyền con người).
Vì vậy, đối với mỗi cá nhân, quyền trước hết là sự thừa nhận về mặt đạo đức. Quyền sống là nguồn của mọi quyền, là cơ sở duy nhất để có thể phái sinh các quyền khác. Tuy nhiên, cho tới đầu thế kỷ XX nhiều người vẫn không nắm bắt được nó một cách đầy đủ về quyền con người và khái niệm quyền con người. Theo hai luận thuyết về đạo đức học - thần bí và xã hội - một số người khẳng định 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền là tặng phẩm của Chúa Trời, những người kia thì cho rằng quyền là tặng phẩm của xã hội.
Nhưng trong thực tế, nguồn gốc của quyền là bản chất con người. Qua thành tựu của công cuộc đổi mới, toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc. Hàng loạt vấn đề mới xuất hiện, hàng loạt vấn đề của cơ chế cũ đang được xem xét, nhìn nhận lại trong điều kiện mới sự hội nhập quốc tế và khu vực. Bằng cách đánh giá khách quan, khoa học tại Việt Nam và trên thế giới chúng ta càng nhận thức rõ hơn về quyền con người.
Trước thực tế đó để việc bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người khi bị tội phạm xâm hại và đặc biệt là bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn đạt hiệu quả cao, cần phải có cách hiểu chính xác về quyền con người. “Nhân quyền đòi hỏi ba nhân tố tương tác lẫn nhau: các quyền này phải hoàn toàn tự nhiên (liên quan mật thiết đến con người), phải bình đẳng (như nhau với tất cả mọi người) và phải mang tính toàn cầu (được áp dụng ở khắp mọi nơi). Tất cả loài người ở mọi nơi trên trái đất đều có quyền lợi như nhau không phân biết địa vị xã hội [36, tr. “Khái niệm quyền con người đã từng được đề cập trong Thỏa ước của Hội Quốc liên - văn kiện làm nền tảng cho việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế.
Năm 1945, tại Hội nghị San Freacisco đề xuất về việc xây dựng “Tuyên ngôn các quyền thiết yếu của con người” đã được đưa ra nhưng không được hội nghị xem xét bởi tại thời điểm đó một vấn đề như vậy cần xem xét một các chi tiết hơn” [6, tr. Đến năm 1968, Tuyên bố Tê-hê-ran được thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Iran đã khẳng định: “Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người đã xác nhận một nhận thức chúng của các dân tộc trên thế giới về các quyền bất di, bất dịch và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không thể bị xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình, nhân loại và thiết lập một nghĩa vụ cho các thành viên của cộng đồng quốc tế. Hội nghị này cũng khẳng định sự tin tưởng với các nguyên tắc được đề cập trong Tuyên ngôn và kêu gọi các dân tộc và các Chính phủ: phấn đấu cho những nguyên tắc được ghi nhận trong Tuyên ngôn và tăng cường hơn nữa những nỗ lực nhằm bảo đảm cho mọi người có một cuộc sống phù hợp với tự do và nhân phẩm cũng như sự hạnh phúc về thể chất, tinh thần, xã hội và văn hóa” [6, tr. Theo đó, Quyền con người là những xử sự đương nhiên không bị ai ngăn cấm, hạn chế và được xã hội thừa nhận rộng rãi, bảo đảm thực hiện thống nhất bằng sự tự giác kết hợp với sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Các đặc điểm cơ bản của quyền con người “Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa, là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của cả nhân loại, nhằm cải tạo xã hội và thiên nhiên, giải phóng con người khỏi mọi áp búc, bất công” [36, tr. Quyền con người là một vấn đề đã được đề cập từ lâu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - đây là cơ sở đầu tiên, quan trọng để con người được hưởng quyền công dân trong xã hội, nhưng với lịch sử lập hiến của nước ta lần đầu tiên quyền con người được đề cập trong Hiến pháp được sửa đổi năm 2013, theo đó quyền con người có những đặc điểm chủ yếu sau: - Quyền con người có tính pháp định: “Kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn cao cả của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống văn hóa dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Con người và quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”” [36, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền con người và bảo vệ quyền con người là hai lĩnh vực không thể tách rời.
Chúng tồn tại song hành và biện chứng trong nhau. “Quyền con người là quyền và lợi ích của tất cả mọi người. Mức độ bảo đảm quyền con người là một trong những thước đo sự phát triển của xã hội. Bảo đảm quyền con người không chỉ là việc thực hiện các cam kết quốc tế,mà chính là động lực của sự phát triển, là bản chất tốt đẹp của xã hội ta” [36, tr.
Trong thực tế, quyền con người muốn được thực thi đúng đắn và nghiêm chỉnh phải đi liền với việc bảo vệ quyền con người. Bảo vệ quyền con người tốt và nghiêm minh là động lực để bảo đảm quyền con người và quyền con người chỉ được bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt nhất thông qua pháp luật. Bởi vậy, bảo vệ quyền con người bằng pháp luật đồng nghĩa với việc được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế cao nhất - sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Bên cạnh đó pháp luật cũng là tiền đề, là nền tảng để công dân cũng như các cơ quan Nhà nước đấu tranh chống lại mọi biểu hiện, hành vi vi phạm quyền con người.
Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người cũng khẳng định việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người có thể phải chịu những giới hạn nhất định, những giới hạn đó quy định trong pháp luật, với mục đích bảo đảm sự thừa nhận các quyền và tự do của người khác, hoặc để bảo đảm các yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng và sự thịnh vượng nói chung trong một xã hội dân chủ. Đồng thời, các quyền được ghi nhận trong các công ước có thể hạn chế bởi pháp luật của quốc gia nhưng chỉ trong một chừng mực tương thích với bản chất những quyền đó và chỉ để nhằm mục đích thúc đẩy phúc lợi chung trong xã hội dân chủ, công bằng.