Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và khung lý thuyết của luận án. Những vấn đề lý luận về bảo vệ người tố cáo và pháp luật về bảo vệ người tố cáo. Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam.
Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ KHUNG LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu BVNTC là một vấn đề tương đối mới ở Việt Nam, vì vậy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật về BVNTC được công bố ở nước ta. Hiện tại, các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận chung về KNTC, mới chỉ có một vài công trình bước đầu phân tích một số khía cạnh của việc BVNTC như những yêu cầu với việc BVNTC, cơ chế BVNTC.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có phần đa dạng hơn, tập trung vào các vấn đề lý luận, các quy tắc quốc tế, hệ thống pháp luật và kinh nghiệm xây dựng, thực hiện pháp luật về BVNTC của một số quốc gia. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào của các học giả nước ngoài tập trung phân tích vấn đề BVNTC ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài, luận án sẽ chỉ ra những nội dung mới, những vấn đề chưa được đề cập hoặc đã được đề cập nhưng còn thiếu, chưa rõ để từ đó xác định phương hướng và mục tiêu tiếp tục nghiên cứu. Từ nhận định chung nêu ở đoạn trên, dưới đây, nội dung đánh giá đối với các công trình nghiên cứu trong nước sẽ bao gồm các vấn đề lý luận về BVNTC và pháp luật về BVNTC; thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về BVNTC ở Việt Nam; các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVNTC.
Nội dung đánh giá đối với công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu là các vấn đề lý luận, hệ thống pháp luật và kinh nghiệm xây dựng, thực hiện pháp luật về BVNTC của nước ngoài. Tình hình nghiên cứu trong nước Các công trình khoa học của các tác giả trong nước nghiên cứu pháp luật về BVNTC được công bố thời gian qua chủ yếu được thực hiện dưới hình thức các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí. Ngoài ra còn có một (01) đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, bốn (04) báo cáo hội thảo khoa học và một số sách chuyên khảo và luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học. Hầu hết các công trình này đều nghiên cứu về KNTC nói chung, trong đó có đề cập đến việc BVNTC.
Hiện chưa có công trình khoa học nào ở Việt Nam tập trung nghiên cứu riêng về vấn đề BVNTC. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật về bảo vệ người tố cáo * Về khái niệm hay quan niệm về tố cáo Đây là nội dung được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu về KNTC đã công bố ở nước ta. Tuy nhiên, đa số các công trình đều trích dẫn các thuật ngữ tố cáo theo luật định mà không đưa ra định nghĩa mang tính chất lý luận khoa học về tố cáo.
Một số công trình đưa ra các quan niệm, khái niệm về tố cáo nhưng có sự khác nhau về chủ thể thực hiện hành vi tố cáo; cách thức thực hiện hành vi tố cáo; và đối tượng bị tố cáo. Ví dụ, Giáo trình Thanh tra và Giải quyết Khiếu nại Hành chính của Học viện Hành chính cho rằng “tố cáo là việc cá nh n báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của…”[45, tr. Hoặc theo GS. Phạm Hồng Thái, “tố cáo th c chất là việc công dân phát hiện và thông báo chính thức với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật nào đó.
Trong khi một số công trình nghiên cứu khác đưa ra quan niệm về tố cáo ở một phạm vi rộng hơn: “Tố cáo là việc một người báo cho… về một hành vi sai trái của… “[84, tr.64], “Tố cáo là việc công dân, cá nhân báo …về bất kỳ hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng” [79, tr. Như vậy, có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu hiện nay chưa có sự thống nhất quan điểm về cách thức mà các chủ thể th c hiện hành vi tố cáo cũng như về đối tượng bị tố cáo. Về cách thức thực hiện việc tố cáo, phần lớn cho rằng một chủ thể nào đó “báo với”, “báo tin cho” cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; số khác cho rằng chủ thể thực hiện quyền tố cáo “phát hiện với”, hay “phát hiện và thông báo chính thức với”. Về đối tượng bị tố cáo, đa số các công trình nghiên cứu cho rằng đó là “hành vi trái luật” hay VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào [45, 63, 64, 101, 105], trong khi một số công trình đó là “hành vi sai trái” [84], “hành vi VPPL hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng” [79].
Ngoài ra, có công trình cho rằng đối tượng bị tố cáo ngoài “hành vi” còn có thể là “việc làm”, thậm chí là “lời nói” hoặc “hiện tượng khả nghi” nào đó mà NTC cho là có dấu hiệu vi phạm, sai trái, phạm pháp, cần được lên án, ngăn chặn, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định: “Tố cáo là báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết bằng văn bản hoặc lời nói về những hành vi, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc làm, lời nói hoặc hiện tượng khả nghi nào đó…mà NTC cho là có dấu hiệu vi phạm, sai trái, phạm pháp, cần được lên án, ngăn chặn, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định” [26, tr. * Về người tố cáo NTC là chủ thể thực hiện quyền tố cáo, tuy nhiên hiện chưa có sự thống nhất về quan điểm trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về phạm vi chủ thể của quyền tố cáo. Hầu hết các công trình đã công bố hiện nay ở nước ta đều cho rằng “NTC” là “công dân” [3, 64, 75, 79, 101, 105] hay “cá nhân” [79], “một người” [26, 84]…, tuy nhiên, cũng có công trình cho rằng “NTC được quy định trong Luật Tố cáo là công dân th c hiện quyền tố cáo, nhưng có thể được hiểu là cơ quan, tổ chức tố giác, báo tin về tội phạm” [95, tr. Sự khác biệt trong nhận thức về phạm vi chủ thể của quyền tố cáo một phần là do các nhà nghiên cứu khi đề cập đến NTC chỉ giới hạn ở một phạm vi hay quy về một lĩnh vực nhất định như: tố cáo hành chính [3, 75, 88, 101, 102]; tố cáo trong Đảng [26]; tố giác tội phạm hình sự; tố cáo hành vi tham nhũng… * Phân biệt s khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo; giữa quyền khiếu nại và quyền tố cáo Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đối tượng được bảo vệ.
Thực tiễn cho thấy không chỉ NTC mà cả người khiếu nại cũng có thể bị trù dập, trả thù. Vì thế, pháp luật cần phải bảo vệ cả NTC và người khiếu nại. Tuy nhiên, việc bảo vệ hai nhóm đối tượng này là khác nhau, do có sự khác nhau về tính chất và mức độ. Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã phân tích sự khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo.
Đinh Văn Minh trong hai bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và Tạp chí Thanh tra cho rằng, việc phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo cần căn cứ vào mục đích của chủ thể hành vi, trong đó khiếu nại nhằm hướng tới lợi ích, đi đòi lại lợi ích mà chủ thể khiếu nại cho là họ đã bị xâm phạm, còn tố cáo nhằm hướng tới việc xử lý hành vi vi phạm và người có hành vi vi phạm mà chủ thể tố cáo cho là nguy hại cho xã hội hay cho bản thân họ [52, 54]. Phạm Hồng Thái, trong một cuốn sách chuyên khảo cũng chỉ ra điểm chung và sự khác nhau giữa quyền khiếu nại và quyền tố cáo, theo đó điểm chung là cả hai quyền này cùng được sử dụng với tư cách là quyền bảo vệ quyền, còn điểm khác nhau thể hiện ở chủ thể, đối tượng và mục đích của chủ thể khi thực hiện hai quyền này [64]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * S khác biệt giữa tố cáo và tố giác, tin báo tội phạm Theo GS. Phạm Hồng Thái, tố cáo gần gũi với tố giác, tin báo, thông tin về tội phạm, nhưng về bản chất pháp lý có sự khác nhau.
Sự khác nhau cơ bản giữa chúng thể hiện ở chỗ: trong tố cáo về nguyên tắc (trừ một số trường hợp tố cáo giấu tên), chủ thể luôn được xác định và phải chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung mà họ tố cáo. Mặt khác, tố cáo là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật về tố cáo. Trong khi đó, tố giác thì chủ thể không xác định và thông tin trong tố giác chỉ để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tham khảo và họ chỉ xử lý khi thấy thông tin đó có căn cứ [64, tr. Sự khác biệt giữa tố cáo và tố giác tội phạm còn được phân tích trong một bài viết của Thạc sĩ Lê Ra (2012) đăng trên Tạp chí Kiểm sát, trong đó cho rằng, tố cáo hành vi VPPL thì không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm, còn tố giác tội phạm thì chỉ bao gồm những hành vi VPPL có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự [61, tr.
Khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm, hay nói cách khác, tố cáo hành vi phạm tội được gọi là tố giác tội phạm [61, tr.