Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; Chương 2. Những vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp; Chương 3. Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam từ 1946 đến nay.
Các yêu cầu, quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp Việt Nam. 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp nói chung 1.Các nghiên cứu về vị trí, vai trò của cơ chế bảo vệ QCN, QCD trong hiến pháp Theo tinh thần của pháp luật quốc tế, các nhà nước là chủ thể chính có nghĩa vụ trong việc đảm bảo thực thi các QCN, QCD.
Để thực hiện nghĩa vụ này, các nhà nước cần thông qua những biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp, cũng như thiết lập các cơ chế để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Các cơ chế bảo vệ QCN, QCD của quốc gia thường được xây dựng trên cơ sở hiến pháp, pháp luật và các văn kiện quốc tế mà quốc gia đó tham gia. Cơ chế bảo vệ QCN, QCD trước hết phải được thể hiện bằng các quy định trong hiến pháp và phải tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế về QCN. Theo hướng đó, cả ở trên thế giới và ở Việt Nam hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN, QCD theo hiến pháp nói chung.
Tiêu biểu có thể kể ra những công trình sau đây: Liên quan đến vai trò của hiến pháp trong việc bảo vệ các QCN, đáng lưu ý là ấn phẩm “The Constitutional Protection of Human Rights” (2014) (Bảo vệ QCN theo hiến pháp) của Viện Nghiên cứu Nhân quyền Đan Mạch, trong đó nhấn mạnh rằng sự bảo vệ QCN theo hiến pháp là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình thảo luận, soạn thảo và thông qua các bản hiến pháp mới trên thế giới trong những năm gần đây. Tài liệu cập nhật những sửa đổi, bổ sung liên quan đến QCN trong hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế 12 giới. Ấn phẩm cũng cho thấy ở các nước Châu Mỹ La-tinh như Bolivia và Ecuador, trong quá trình soạn thảo Hiến pháp có sự tham gia ở mức cao của nhiều thành phần xã hội, kết quả là hiến pháp mới của các quốc gia này ghi nhận danh mục các QCN ở mức độ chi tiết và tiến bộ hơn, ví dụ như sự thừa nhận quyền có nước sạch. Trong khi đó, Na Uy ở Châu Âu và Nepal ở Châu Á lại đang diễn ra cuộc tranh luận về vị trí của các quy định bảo vệ các QCN trong khuôn khổ hiến pháp.
Tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về sự bảo vệ QCN trong hiến pháp và quá trình lập pháp thông qua các nghiên cứu được tiến hành từ những năm 1990. Mặc dù mỗi bản hiến pháp có những đặc trưng riêng, tuy nhiên vẫn cần có những điều kiện để đảm bảo một sự bảo vệ QCN thích đáng và phù hợp ở cấp độ trong nước. Ấn phẩm nhấn mạnh những yếu tố cơ bản của một cơ chế bảo vệ QCN trong khuôn khổ hiến pháp cả về thể chế và thiết chế, tập trung vào các quy định về QCN, các phương thức đối với các vi phạm nhân quyền và mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật nhân quyền quốc tế [110]. Liên quan đến cấu trúc của cơ chế hiến định về bảo vệ nhân quyền, tiêu biểu có tài liệu chuyên đề của Liên minh EU có tiêu đề “Strengthening the National Human Rights Protection System” (Tăng cường hệ thống bảo vệ QCN ở quốc gia), trong đó nhấn mạnh rằng cơ chế bảo vệ các QCN, QCD là sự kết hợp giữa các thể chế và thiết chế hiến định, mà nòng cốt là cơ quan nhân quyền quốc gia, cùng với sự tham gia sâu rộng của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội.
Tài liệu này đưa ra một cái nhìn khái quát về cơ chế bảo vệ QCN, QCD ở quốc gia cũng như các thành tố của cơ chế này được ghi nhận theo hiến pháp quốc gia, trong đó nhấn mạnh vai trò của thiết chế độc lập về QCN. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở liệt kê, mô tả các thành tố được cho là cần thiết để cấu thành nên cơ chế bảo vệ QCN, QCD ở cấp quốc gia, mà chưa đề cập cụ thể đến mối quan hệ giữa các thành tố, 13 cũng như ảnh hưởng của cơ chế bảo vệ theo hiến pháp đối với việc đảm bảo các QCN, QCD trên thực tiễn [127]. Một công trình cho phép nhìn sâu hơn vào vị trí, vai trò của cơ chế bảo vệ nhân quyền của các quốc gia là ấn phẩm “Human Rights Acts: The Mechanisms Compared” (Các đạo luật nhân quyền: So sánh các cơ chế) của Kris Gledhill, trong đó tác giả phân tích so sánh giữa các cơ chế dựa trên các đạo luật tối cao (hiến pháp) và các cơ chế không dựa trên đạo luật tối cao. Theo tác giả, bên cạnh cơ chế hiến định, hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đồng thời sử dụng những biện pháp khác như quy định chặt chẽ về nghĩa vụ giải thích pháp luật và ghi nhận các nghĩa vụ về lập pháp trong việc xem xét các quy định hay đạo luật có vi phạm QCN hay không.
Điển hình cho phương thức bảo vệ này là các nước New Zealand, Vương quốc Anh, Ireland. Tùy theo bối cảnh và vụ việc mà có thể lựa chọn cơ chế theo hiến pháp hay theo pháp luật để nhận biết và xử lý các hành vi vi phạm QCN [123]. Cũng liên quan đến vị trí, vai trò của cơ chế hiến định bảo vệ nhân quyền, tác giả Fiona de Londras, trong báo cáo nghiên cứu của mình với chủ đề “International Human Rights Law and Constitutional Rights: In Favour of Synergy” (Luật nhân quyền quốc tế và các quyền hiến định: Lợi ích nhất quán), đã đề cập đến khả năng xây dựng mối quan hệ thống nhất, đồng bộ giữa luật nhân quyền quốc tế và hiến pháp quốc gia, từ đó hướng hai bộ tiêu chuẩn này trở nên hài hòa thay vì đặt ra câu hỏi quy định nào cần được ưu tiên hay quy định nào là thứ yếu. Theo tác giả, để xây dựng nên bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ giữa hiến pháp quốc gia và luật nhân quyền quốc tế đòi hỏi phải có nhận thức về những giá trị cốt lõi chung giữa hai hệ thống.
Tuy nhiên, sự hỗ trợ lẫn nhau sẽ góp phần tăng cường hiệu quả của cả hai cơ chế bảo vệ QCN theo pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Nghiên cứu sử dụng ví dụ về bảo vệ quyền của nhóm LGBT theo Công ước về QCN của 14 Châu Âu và hiến pháp của các nước trong khu vực, từ đó đưa đến lập luận rằng mối quan hệ thống nhất giữa hiến pháp quốc gia và pháp luật nhân quyền quốc tế là yêu cầu cơ bản để bảo vệ hiệu quả QCN tại các quốc gia. Tuy nhiên ấn phẩm này chỉ tập trung đề cập đến các yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về QCN quốc gia theo hướng tương thích với pháp luật quốc tế (có lưu ý đến bối cảnh riêng ở mỗi nước) mà chưa làm rõ các quy trình, thủ tục mà trên cơ sở đó các tiêu chuẩn quốc tế về QCN được thực thi ở các quốc gia [134]. Các nghiên cứu về thể chế (quy định/nguyên tắc) bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp Nhìn nhận QCN dưới góc độ vừa là các quyền được ghi nhận theo pháp luật quốc tế, vừa là các quyền hiến định, trong bài viết “Human Rights as International Constitutional Rights” (2008) (Quyền con người với tư cách là những quyền hiến định theo quốc tế) trên Tạp chí Luật quốc tế của Châu Âu (The European Journal of International Law) số 19/04, tác giả Stephen Gardbaum đặt ra câu hỏi về việc Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR 1984), cùng hai công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (ICESCR và ICCPR 1966) được coi là “Bộ luật nhân quyền quốc tế”, tuy nhiên, có nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh hiệu lực của các văn kiện này so với hiến pháp và pháp luật quốc gia.
Trong bài viết, đầu tiên, tác giả tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các văn kiện UDHR, ICCPR và ICESCR cũng như những điểm giống và khác giữa các văn kiện này và các văn bản pháp luật về quyền ở các quốc gia, cụ thể, pháp luật quốc tế được nội luật hóa trong hiến pháp và pháp luật khác ở mức độ và cách thức nào. Bài viết cũng nêu ra các giải pháp cho các quốc gia nhằm nội luật hoá các tiêu chuẩn quốc tế về QCN, tuy nhiên chưa đề cập đến bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hoá của các quốc gia khi ghi nhận các tiêu chuẩn này [119]. Một ấn phẩm khác cũng đề cập đến sự bảo vệ QCN theo pháp luật 15 quốc gia, trong đó có hiến pháp, đó là “The legal protection of human rights: sceptical essays” (Bảo vệ QCN theo pháp luật: tập hợp các bài tiểu luận) do Tom Campbell, Keith D. Ewing, Adam Tomkins biên tập (2001).
Ấn phẩm phân tích những hạn chế của Đạo luật về quyền của Anh 1998 và các quy định tương tự bảo vệ QCN, từ đó nêu ra những cách thức hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy QCN thông qua các cơ chế chính trị và dân chủ. Ấn phẩm thể hiện sự hoài nghi về việc bảo đảm những QCN trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và phương thức tăng cường QCN lấy tòa án làm trung tâm, đồng thời phân tích các thiết chế bảo vệ QCN trong những hệ thống tài phán khác nhau, bao gồm Phần Lan, Thụy Điển, New Zealand, Australia, Scotland, Canada và Hoa Kỳ [98]. Cùng chủ đề, ấn phẩm “Protecting Human Rights: Instruments and Institutions” (Các công cụ và thiết chế bảo vệ QCN) của Tom Campbell, Jeffrey Goldsworthy, và Adrienne Stone (2003) giải đáp câu hỏi phương thức nào là hợp pháp và hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy các QCN. Ấn phẩm cũng góp phần giải quyết những vấn đề về khái niệm phát sinh từ những cuộc tranh luận về QCN và đưa ra những mô hình khác nhau về cơ chế bảo vệ QCN có hiệu quả trên thực tế.
Đồng thời, ấn phẩm phân tích mối quan hệ và hiệu quả của các thiết chế pháp lý nhằm thực thi các QCN [99].