Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Điện ảnh là loại hình nghệ thuật ra đời muộn vào cuối thế kỷ XIX nhưng có tốc độ phát triển vượt bậc, trở thành một phương tiện truyền thông và giải trí đại chúng có sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Tại Việt Nam, ngành điện ảnh được đặt nền móng từ năm 1953 và đã hình thành một hệ thống thể chế hoàn chỉnh gồm các cơ sở đào tạo, đơn vị sản xuất phim và cơ quan quản lý chuyên ngành là Cục Điện ảnh. Song hành cùng giá trị văn hóa nghệ thuật, ngành công nghiệp điện ảnh mang lại nguồn thu kinh tế rất lớn với nhiều tác phẩm đạt doanh thu hàng nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, lợi ích kinh tế ngày càng cao cũng kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Tình trạng xem phim lậu, sao chép, tải và chia sẻ trái phép, cũng như việc cắt ghép, sử dụng hình ảnh từ phim mà không trả thù lao/nhuận bút cho tác giả diễn ra phổ biến và ngày càng tinh vi nhờ sự trợ giúp của công nghệ số, mạng Internet và các ứng dụng thiết bị thông minh. Trong khi đó, các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam điều chỉnh trực tiếp đối tượng này còn bộc lộ nhiều khoảng trống, khiến các nhà làm phim gặp khó khăn trong việc xác lập và tự bảo vệ các quyền hợp pháp của mình.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Phương Hoa (sinh viên lớp K63 - CLC, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Kiên) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Bảo vệ bản quyền cho tác phẩm điện ảnh" (Copyright protection for cinematographic works).

Khóa luận xác định mục tiêu làm rõ các điều kiện, phương thức bảo hộ, các quyền của chủ thể đối với tác phẩm điện ảnh, đồng thời đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế vi phạm bản quyền điện ảnh tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Làm rõ các điều kiện bảo hộ quyền tác giả tương ứng với đặc thù của tác phẩm điện ảnh.
  2. Phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với quyền nhân thân của tập thể tác giả và quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả.
  3. Phân tích vai trò của các hội nghề nghiệp, tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả trong việc bảo hộ tác phẩm điện ảnh, từ đó đề xuất giải pháp thành lập tổ chức quản lý tập thể trong lĩnh vực điện ảnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019), Luật Điện ảnh năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), các văn bản hướng dẫn thi hành; đối chiếu với Công ước Berne và pháp luật một số quốc gia. Đồng thời, nghiên cứu xem xét đối tượng thực tiễn là các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào quyền tác giả (copyright) đối với tác phẩm điện ảnh; không nghiên cứu sâu về quyền liên quan (related rights).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận về quyền sở hữu trí tuệ, các điều ước quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:

  • Văn bản pháp luật và điều ước quốc tế: Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Luật SHTT 2019); Luật Điện ảnh năm 2006 (sửa đổi 2019); Nghị định số 22/2018/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL; Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật; Hiệp định TRIPS; Hiệp ước WCT. Nghiên cứu cũng tham khảo quy định lịch sử và luật so sánh: Đạo luật Anne (Statute of Anne 1710, Anh), Luật Bản quyền Ý số 633/1941 (sửa đổi 2001), Đạo luật Bản quyền Canada 1985, Luật Bản quyền Hoa Kỳ (Title 17), Bộ luật Sở hữu trí tuệ Pháp.
  • Tổng quan tài liệu nghiên cứu kế thừa: Tác giả rà soát các công trình nghiên cứu tổng quát về quyền tác giả (TS. Vũ Mạnh Chu, TS. Trần Văn Hải); các công trình về giải quyết tranh chấp và vi phạm bản quyền trên Internet (nhóm tác giả TS. Nguyễn Hợp Toàn, PGS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, PGS. Trần Văn Nam; tác giả Hồng Long Huy - Bùi Tiến Quyết; ThS. Nguyễn Thị Tuyết); và luận văn thạc sĩ chuyên sâu về điện ảnh của ThS. Trương Thị Dạ Thảo. Từ đó, tác giả chỉ ra các vấn đề còn bỏ ngỏ về tính đặc thù của tác phẩm điện ảnh, quyền của tập thể tác giả, video phái sinh/parody và vai trò của tổ chức quản lý tập thể.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tách bạch từng yếu tố cấu thành tác phẩm điện ảnh và điều kiện bảo hộ, sau đó tổng hợp để nhận diện bản chất pháp lý của đối tượng nghiên cứu.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh cơ chế bảo hộ tác phẩm điện ảnh với các loại hình tác phẩm khác; đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với Công ước Berne và pháp luật nước ngoài (Pháp, Hoa Kỳ, Ý, Canada...).
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp các dữ liệu thực tế về thị trường điện ảnh và các vụ việc xâm phạm bản quyền tại Việt Nam nhằm làm rõ thực trạng thực thi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh (General Article on Copyright Protection for Cinematographic Works)

Chương I tập trung hệ thống hóa lịch sử hình thành, khái niệm và đặc điểm pháp lý của quyền tác giả nói chung và tác phẩm điện ảnh nói riêng:

  • Lịch sử và khái niệm quyền tác giả: Khái quát từ thời kỳ cổ - trung đại (khi quyền tác giả được bảo vệ bằng "lời nguyền" như trường hợp Eike von Repgow trong sách Sachsenspiegel), bước ngoặt máy in những năm 1440, đặc quyền cá nhân của Albrecht Dürer (1511), đến Đạo luật Anne 1710 tại Anh và sự phát triển trong hệ thống Civil Law (chú trọng quyền nhân thân) và Common Law (chú trọng quyền tài sản). Theo pháp luật Việt Nam (Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2019), quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
  • Đặc trưng của quyền tác giả: Đối tượng bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật; chỉ bảo hộ hình thức thể hiện (không bảo hộ ý tưởng); xác lập quyền theo cơ chế tự động (không bắt buộc đăng ký); quyền bảo hộ có giới hạn (ngoại lệ không vì mục đích thương mại).
  • Đặc thù bảo hộ tác phẩm điện ảnh:
    • Thời hạn bảo hộ: Điều 27 Luật SHTT quy định tác phẩm điện ảnh được bảo hộ 75 năm kể từ khi công bố lần đầu; nếu chưa công bố trong 25 năm kể từ khi định hình thì thời hạn là 100 năm kể từ khi định hình.
    • Nguyên tắc bảo hộ theo lãnh thổ: Áp dụng Điều 3 và Điều 4 Công ước Berne, bảo hộ độc lập không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã được bảo hộ tại quốc gia gốc hay chưa.
  • Khái niệm và đặc điểm tác phẩm điện ảnh: Đối chiếu định nghĩa tại Luật Điện ảnh 2006 (sửa đổi 2019) và Nghị định 22/2018/NĐ-CP với luật pháp Ý, Canada, Hoa Kỳ. Tác phẩm điện ảnh có 3 đặc điểm nổi bật: (1) Là loại hình "sinh sau đẻ muộn", kế thừa nhiều loại hình nghệ thuật sẵn có (kịch bản, hội họa, âm nhạc, diễn xuất); (2) Thể hiện tính tổng hợp cao nhất của âm thanh và hình ảnh; (3) Được sáng tạo bởi một tập thể gồm nhiều thành phần chuyên môn (đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, âm thanh, ánh sáng...).
  • Tính chất bảo hộ: Tác phẩm điện ảnh được bảo hộ theo Điểm e Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT 2019 với tư cách là tác phẩm nghệ thuật nguyên gốc, có thể bị khai thác độc lập từng phần hoặc dưới dạng một khối thống nhất, và thường tồn tại dưới dạng tác phẩm phái sinh.

Chương II: Một số vấn đề pháp lý về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh (Some Legal Issues Regarding Copyright Protection for Cinematographic Works)

Chương II đi sâu phân tích cơ chế phân định quyền giữa các chủ thể tham gia sáng tạo và đầu tư sản xuất phim:

  • Xác định chủ thể bảo hộ (Tập thể tác giả và Chủ sở hữu):
    • Tập thể tác giả: Gồm đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, nhạc sĩ, thiết kế mỹ thuật, âm thanh, ánh sáng... (Khoản 1 Điều 21 Luật SHTT, Khoản 1 Điều 12 Nghị định 22/2018/NĐ-CP). Khái niệm "tập thể tác giả" khác với "đồng tác giả" thông thường: các thành viên trong tập thể tác giả sử dụng quyền nhân thân tương đối độc lập theo phần đóng góp sáng tạo của mình.
    • Chủ sở hữu quyền tác giả (Nhà sản xuất/Nhà đầu tư): Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật để sản xuất phim (Khoản 2 Điều 21 Luật SHTT). Chủ sở hữu nắm giữ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm (Khoản 3 Điều 19 và Điều 20 Luật SHTT), đồng thời có nghĩa vụ thanh toán nhuận bút, thù lao cho tập thể tác giả.
  • Quyền nhân thân của tác giả:
    • Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và khi tác phẩm được công bố/sử dụng (Khoản 2 Điều 19 Luật SHTT).
    • Quyền đặt tên và quyền sửa đổi kịch bản: Theo Khoản 1 và Khoản 5 Điều 12 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, việc đặt tên tác phẩm và sửa đổi kịch bản phải có sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất, đạo diễn và biên kịch.
    • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm (Khoản 4 Điều 19 Luật SHTT, Điều 6 Công ước Berne).
  • Quyền tài sản và quyền công bố:
    • Quyền công bố tác phẩm (Khoản 3 Điều 19 Luật SHTT): Thuộc về chủ sở hữu tác phẩm điện ảnh.
    • Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng (Khoản 4 Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, Điều 20 Luật SHTT): Được thực hiện qua 4 kênh chính: rạp chiếu phim, phát sóng truyền hình (truyền hình miễn phí, trả tiền, VOD/IPTV như Netflix, Hulu), môi trường số (website trực tiếp, nền tảng chia sẻ YouTube, VieON), và ứng dụng trên thiết bị thông minh (Smart TV, Smartphone, iTunes, Google Play). Trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian được phân tích theo Thông tư liên tịch 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL.
    • Quyền làm tác phẩm phái sinh (Khoản 8 Điều 4, Khoản 2 Điều 14 Luật SHTT):
      • Chuyển thể/Remake: Thực tiễn chuyển thể phim nước ngoài sang phiên bản Việt hóa (Ngôi Nhà Hạnh Phúc, Người Phán Xử, Hương Vị Tình Thân, Tháng Năm Rực Rỡ, Sắc Đẹp Ngàn Cân, Em Là Bà Nội Của Anh, Tiệc Trăng Máu) hoặc chuyển thể từ phim nhựa sang phim truyền hình (Bến Không Chồng 32 tập, Bố Già từ chiếu rạp sang web-series). Tác giả lập luận: khi chuyển thể một bộ phim vốn được chuyển thể từ tác phẩm văn học thì phải đảm bảo quyền của cả tác giả tác phẩm gốc theo tinh thần Khoản 2 Điều 14 Công ước Berne.
      • Video Parody (Nhại lại): Phân tích công thức $Parody = Sao\ chép + Hài\ hước + Tích\ hợp\ chi\ tiết$ qua các ví dụ (Bỗng Dưng Nổi Loạn, Đấu Trường Booyah). Luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể, tác giả đối chiếu quy định của Bộ luật Sở hữu trí tuệ Pháp về ngoại lệ parody nhằm bảo đảm quyền giải trí công chúng khi không mang mục đích phỉ báng hay cạnh tranh thương mại không lành mạnh.
      • Trailer phim: Bản chất là việc sao chép, cắt ghép các phân cảnh hấp dẫn nhằm mục đích quảng bá, đòi hỏi phải có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả nếu do bên thứ ba thực hiện.
    • Quyền sao chép tác phẩm (Điểm c Khoản 1 Điều 20 Luật SHTT): Quy định bao quát mọi hình thức chuyển đổi định dạng (băng nhựa, đĩa DVD/CD, tệp số hóa) và phương thức sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp.

Chương III: Thực trạng thực thi quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh tại Việt Nam (The Situation of Implementation of Copyright for Movie Works in Vietnam)

Chương III đánh giá bức tranh thực tế về tình hình vi phạm bản quyền phim tại Việt Nam:

  • Phân tích tình hình vi phạm bản quyền điện ảnh với các phương thức truyền thống (in sao đĩa lậu) và phương thức hiện đại (phát tán trên website lậu, livestream trong rạp, ứng dụng OTT, mạng xã hội).
  • Đánh giá những khó khăn trong khâu phát hiện, xử lý vi phạm, trách nhiệm pháp lý của các bên cung cấp dịch vụ trung gian Internet và cơ chế bồi thường thiệt hại.
  • Phân tích nguyên nhân vi phạm: do ý thức tôn trọng bản quyền của người dùng chưa cao, chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe, quy định pháp luật còn thiếu định lượng cụ thể, và thiếu vắng tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả chuyên nghiệp trong ngành điện ảnh.

Chương IV: Kiến nghị hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh (Recommendations for Finishing the Copyright Protection Mechanism for Movie Works)

Chương IV đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp và thực thi:

  1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về tác giả và quyền của tập thể tác giả đối với tác phẩm điện ảnh (làm rõ quyền tài sản, quyền nhân thân, cơ chế phân chia lợi ích).
  2. Tăng cường áp dụng các biện pháp công nghệ kỹ thuật số (DRM, mã hóa, cơ chế gỡ bỏ tự động) nhằm bảo vệ quyền tác giả trên không gian mạng.
  3. Xây dựng và phát triển tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả (CMO) chuyên biệt trong lĩnh vực điện ảnh và nghe nhìn tại Việt Nam.
  4. Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cơ quan thực thi pháp luật và đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bản quyền điện ảnh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế về cơ sở hạ tầng phát hành và phân phối phim tại Việt Nam (dẫn theo số liệu thống kê năm 2019 tại Hội thảo Bản quyền Điện ảnh tổ chức tại Hà Nội):

Phân loại cơ sở rạp chiếu Số lượng rạp Số lượng phòng chiếu Quy mô số ghế
Rạp do Nhà nước quản lý 72 110 Khoảng 26.500
Rạp tư nhân và liên doanh nước ngoài 25 142 Khoảng 25.000
Tổng cộng Gần 100 252 Khoảng 51.500

Các phát hiện và đóng góp học thuật của nghiên cứu:

  • Làm rõ sự khác biệt giữa "Tập thể tác giả" và "Đồng tác giả": Khóa luận chỉ ra rằng thành viên trong tập thể tác giả của tác phẩm điện ảnh thực hiện quyền nhân thân đối với phần sáng tạo độc lập của mình một cách riêng rẽ, không đòi hỏi sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả các thành viên khác như quy định về đồng tác giả tại Điều 38 Luật SHTT. Quyền đặt tên và sửa đổi kịch bản được khu biệt riêng cho sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất, đạo diễn và biên kịch.
  • Xác lập nguyên tắc bảo hộ tác phẩm phái sinh nhiều tầng: Đưa ra quan điểm lập pháp rằng khi chuyển thể một bộ phim phái sinh từ một tác phẩm văn học gốc, bắt buộc phải có sự cho phép và tôn trọng quyền tác giả của cả tác phẩm điện ảnh chuyển thể trung gian lẫn tác phẩm văn học gốc, bảo đảm phù hợp với Khoản 2 Điều 14 Công ước Berne.
  • Đề xuất bổ sung khung pháp lý cho video Parody: Khóa luận kiến nghị Luật SHTT Việt Nam nên học tập kinh nghiệm từ Điều luật Bản quyền của Pháp, bổ sung hành vi làm video nhại lại (parody) vào nhóm ngoại lệ quyền tác giả với các điều kiện ràng buộc: phục vụ mục đích giải trí, thiện chí, không mang tính bôi nhọ/phỉ báng danh dự tác giả và không cạnh tranh thương mại trực tiếp với tác phẩm gốc.
  • Đề xuất thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền điện ảnh: Nhấn mạnh sự cần thiết của một tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả trong lĩnh vực nghe nhìn để đại diện cho các nhà làm phim, biên kịch, đạo diễn trong việc thu và phân phối tiền bản quyền từ các nền tảng số và truyền hình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn phạm vi trong việc xem xét các quy định về quyền tác giả (copyright) đối với tác phẩm điện ảnh, chủ yếu dựa trên Luật SHTT 2019 và Nghị định 22/2018/NĐ-CP; chưa mở rộng phân tích các quyền liên quan (related rights) của nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng và người biểu diễn vốn cũng gắn liền mật thiết với sản phẩm nghe nhìn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền tác giả trên các nền tảng xuyên biên giới, thuật toán tự động quét bản quyền (như Content ID), cũng như mối quan hệ pháp lý phức tạp giữa quyền tác giả và quyền liên quan trong các sản phẩm nghe nhìn đa phương tiện thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, cung cấp cơ sở lý luận chi tiết về cơ chế bảo hộ đối tượng tác phẩm đa thành phần cấu thành.
  • Nhà sản xuất phim, đạo diễn, biên kịch: Tham khảo để nắm rõ quyền nhân thân, quyền tài sản và cơ chế thỏa thuận hợp đồng hợp tác sáng tạo, chuyển nhượng quyền tác giả và quyền khai thác trên các nền tảng phân phối (rạp, truyền hình, OTT, Internet).
  • Cơ quan xây dựng chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn và luật so sánh phục vụ việc hoàn thiện các văn bản dưới luật điều chỉnh hành vi làm tác phẩm phái sinh, parody và trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian Internet.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "tập thể tác giả" trong tác phẩm điện ảnh khác gì so với "đồng tác giả" theo phân tích của khóa luận? Trong khi "đồng tác giả" (Điều 38 Luật SHTT) đòi hỏi sự thỏa thuận và đồng thuận chung khi thực thi quyền nhân thân, thì "tập thể tác giả" của tác phẩm điện ảnh (Điều 21 Luật SHTT, Điều 12 Nghị định 22/2018/NĐ-CP) cho phép mỗi cá nhân (đạo diễn, quay phim, nhạc sĩ...) được hưởng quyền nhân thân độc lập đối với phần sáng tạo của riêng mình. Riêng quyền đặt tên và sửa đổi kịch bản thuộc về sự thỏa thuận giữa ba chủ thể: nhà sản xuất, đạo diễn và biên kịch.

2. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định cụ thể như thế nào? Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm điện ảnh có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu. Trường hợp tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, thời hạn bảo hộ là 100 năm tính từ thời điểm định hình.

3. Khóa luận phân loại các kênh truyền đạt tác phẩm điện ảnh đến công chúng gồm những nhóm nào? Khóa luận chia thành 4 nhóm chính: (1) Chiếu phim tại rạp (với số liệu 2019 gồm 72 rạp nhà nước và 25 rạp tư nhân/liên doanh); (2) Phát sóng truyền hình (truyền hình miễn phí như VTV, HTV; truyền hình trả tiền như K+, SCTV; truyền hình theo yêu cầu VOD/IPTV như Netflix, Hulu); (3) Môi trường số (website tải phim trực tiếp và nền tảng người dùng đăng tải như YouTube, VieON); (4) Ứng dụng trên thiết bị thông minh (Smart TV, Smartphone, iTunes, Google Play).

4. Khóa luận đề xuất hướng xử lý pháp lý đối với thể loại video nhại (parody) như thế nào? Tác giả chỉ ra rằng việc làm video parody sử dụng hình ảnh/nhân vật gốc và có thể ảnh hưởng đến tính toàn vẹn tác phẩm nhưng nhằm mục đích giải trí và không cạnh tranh thương mại. Khóa luận đề xuất Luật SHTT Việt Nam tham khảo quy định của Pháp để đưa parody vào diện ngoại lệ hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện: thể hiện mục đích gây cười thiện chí, không mang tính phỉ báng, bôi nhọ danh dự tác giả và không nhằm trục lợi bất chính.

5. Đối với việc chuyển thể tác phẩm điện ảnh qua nhiều tầng nấc, tác giả khóa luận có quan điểm gì? Tác giả cho rằng khi một bộ phim A chuyển thể từ tác phẩm văn học, sau đó bộ phim B lại được chuyển thể từ phim A, thì nhà sản xuất phim B bắt buộc phải xin phép và tôn trọng bản quyền của cả tác giả phim A lẫn tác giả tác phẩm văn học gốc. Quan điểm này bảo đảm sự phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 14 của Công ước Berne.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Hoa đã giải quyết thấu đáo các vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh theo pháp luật Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế. Công trình làm sáng tỏ các quyền lợi phức tạp giữa tập thể tác giả và chủ sở hữu tác phẩm, đồng thời nhận diện rõ những thách thức từ các phương thức truyền đạt tác phẩm trên không gian số và các dạng tác phẩm phái sinh mới. Các đề xuất về việc luật hóa hành vi parody, hoàn thiện quyền chuyển thể nhiều tầng và thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền nghe nhìn có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và thực thi bản quyền điện ảnh tại Việt Nam.