Chương 1. Các vấn đề lý luận về bảo hộ quyền của NSX chương trình truyền hình Chương 2. Quyền của NSX chương trình bóng đá giải Ngoại hạng Anh theo quy định pháp luật quốc tế Chương 3. Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của NSX chương trình bóng đá giải Ngoại hạng Anh tại Việt Nam.
CÁC VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HO QUYEN CUA NHÀ SAN XUAT CHUONG TRINH BONG DA GIAI NGOAI HANG ANH 1. Khai quat vé quyén lién quan 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền liên quan 1. Khải niệm Một tác phẩm muốn đến được với công chúng thì cần những phương thức, hình thức truyền tải nhất định.
Có lúc ta thấy tác phẩm do tác giả trực tiếp biểu diễn, trình bày nhưng đa phần các tác phẩm được công bó, truyền bá tới công chúng là nhờ những người biểu diễn, t6 chức phát sóng,. Những người nay tuy không trực tiếp sáng tạo ra các tác phẩm, nhưng thông qua các sản phâm của họ (các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng) công chúng tiếp cận được các thành quả sáng tạo của tác giả. Mà các sản phâm họ làm ra cũng có thể bị sao chép, làm lậu. Vì vậy, không chỉ tác giả mà những người có sự đóng góp công sức trong việc truyền bá tác phẩm đến với công chúng cũng cần được pháp luật bảo vệ các quyên và lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền của những đối tượng nay được gọi là quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi tắt là quyền liên quan) hay quyền kề cận quyền tác giả (gọi tắt là quyền ké cận). Các nước theo hệ thống pháp luật Common Law sử dụng thuật ngữ “neighbouring rights” nghĩa là quyền kề cận và điều chỉnh nó cùng với các quyên tác giả (Copyright) bằng Luật Bản quyền — Copyrights. Trong khi đó, các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law sử dụng thuật ngữ “related rights” nghĩa là quyên liên quan. Hệ thong pháp luật này xác định đây là các quyên rất gần với quyên tác giả nhưng không hướng tới người trực tiếp sáng tạo — tác giả ra tác phẩm mà độc lập với lĩnh vực quyên tác giả.
Hiện nay, chưa có một định nghĩa đầy đủ nào về quyên liên quan trong các văn bản pháp luật quốc tế mà các văn bản này chủ yếu chỉ quy định về quy mô bảo hộ đối với quyền tác giả, quyền liên quan nói chung và quyền của NSX chương trình truyền hình nói riêng. Pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “quyền liên quan” và cũng không định nghĩa trực tiếp, cụ thể về quyền liên quan mà chỉ đưa ra khái niệm mang tính liệt kê các chủ thé của quyền liên quan tại Khoản 2 Diéu 1 Luật sửa đổi bồ sung một số diéu của Luật SHTT 2005 như sau: “Quyên liên quan đến quyên tác giả (sau đây gọi là quyển liên quan) là quyên của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tỉnh mang chương trình được mã hóa”. Quyền liên quan được bảo hộ theo hai phương diện: Phương diện chủ quan: đó là các quyên nhân thân, quyên tài sản của các cá nhân, tô chức thực hiện việc truyền tải tac phâm tới công chúng thông qua việc biêu diễn tác phâm, sản xuât bản ghi âm, ghi hình và phát sóng tác phâm. Phương diện khách quan: đó là tông hợp các quy định của pháp luật đê xác định và bảo vệ các quyên nhân thân và quyên tài sản của cá nhân, tô chức đôi với cuộc biêu diễn tác phâm, ca nhân, tô chức sản xuât bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn hoặc ghi âm, ghi hình phát sóng tác phẩm.
Đặc điểm Xuất phat từ tên gọi quyền liên quan đến quyên tác giả (hay quyên liên quan) đã cho thấy sự gần gũi giữa quyền liên quan với quyền tác giả. Ngoài các đặc điểm chung với quyên tác giả như: đều là các bộ phận thuộc quyền sở hữu trí tuệ, có tính chất sáng tạo, tính tự động của cơ chế xác lập sự bảo hộ. Quyền liên quan còn có các diém đặc trưng riêng như sau: Thứ nhất, hoạt động của các chủ thé quyên liên quan chính là hành vi sử dung tác phẩm đã có. Tác phẩm đã được tac giả sáng tạo là cơ sở dé chủ thé quyên liên quan tiễn hành các hoạt động nghề nghiệp của minh, từ đó phát sinh các quyên này.
Hoạt động sử dụng những tác pham đã có của các chủ thé quyền liên quan là một dạng hoạt động sử dụng đặc thù thể hiện ở mục đích, tính chất, kết quả,.của hành vi sử dụng. Hoạt động của chủ thể quyền liên quan là hành vi sử dụng tác phẩm đã có, việc sử dụng này mang tính sáng tạo nghệ thuật nhất định. Do đó, pháp luật đã có những quy định riêng biệt nhằm bảo hộ quyền lợi 10 cho các chủ thể này. Trong quá trình thực hiện các hoạt động sử dụng tác phẩm, các chủ thé quyên liên quan vẫn phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ đối với tác giả, chủ sở hữu quyên tác giả của tác phẩm ma họ sử dụng theo quy định pháp luật.
Thứ hai, đối tượng quyền liên quan được bảo hộ khi có tính nguyên gốc. Tinh chất này của quyên liên quan được thể hiện ở hai khía cạnh chính là trên cơ sở lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của chủ thé và theo các đôi tượng của quyền liên quan được tạo ra lần đầu tiên. Nếu như đặc trưng thứ nhất của quyền liên quan (tính chất sử dụng các tác phâm đã có) là điểm quan trọng phân biệt nó với các loại quyền sở hữu trí tuệ khác, thì tính nguyên gốc của quyền liên quan cho phép xác định đâu là quyền liên quan được pháp luật bảo hộ, ai là chủ thé của quyên liên quan, khi nào xảy ra sự xâm phạm quyên liên quan và các hành vi vi phạm quyên liên quan. Thứ ba, quyền liên quan chỉ được bảo hộ trong thời hạn nhất định, kế cả các quyền nhân thân.
Quyền liên quan trên phạm vi quốc tế cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ hầu hết các quốc gia lại đều có giới hạn thời hạn bảo hộ ở mức độ nhất định, thường là 50 năm ké từ khi các đối tượng (cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng) được định hình hoặc công bố. Thời hạn bảo hộ này xác định với cả quyền nhân thân của người biểu dién. Trong khi đó, quyền tác giả gồm quyền tài sản và quyền nhân thân có thé chuyển dịch (quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ với thời hạn thông thường là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết; các quyền nhân thân gan liền với tác giả không thể chuyên dịch được bảo hộ vô thời hạn. Sự khác biệt này là do quyền nhân thân của người biểu diễn chỉ có thé được thực hiện và bảo đảm khi bản định hình cuộc biéu diễn còn tôn tại.
Mà các bản định hình cuộc biểu diễn chỉ có thé được bảo quản trong thời hạn nhất định (do đặc tính kỹ thuật) nên nếu quy định các quyền nhân thân trong quyên liên quan được bảo hộ một cách vô thời hạn là không cần thiết và không kha thi. Thứ tư, quyền liên quan được bảo hộ trên nguyên tắc không làm phương hại đến quyền tác giả. Quyền liên quan được hình thành sau khi quyền tác giả đã 11 được bao hộ một cach phổ biến và rộng rãi và có mối quan hệ mật thiết với quyền tác giả nên việc bảo hộ quyền này phải dựa trên nguyên tắc không gây bat kỳ sự phương hại nào có thé đối với quyền tác giả. Nếu các chủ thể quyền liên quan có hành vi sử dụng tác phẩm không đảm bảo tôn trọng quyền tác giả theo quy định của pháp luật (như không có sự cho phép của tác giả ,.) thì đó được coi là hành vi xâm phạm quyên tác giả và hành vi này không làm phát sinh quyền liên quan được bảo hộ theo quy định pháp luật.
Một số quy định chung về quyên liên quan 1. Chủ thể và chủ sở hữu của quyên liên quan Theo quy định chung của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền liên quan thì chủ thé của quyền này bao gồm: người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phat sóng. Chủ sở hữu của quyền liên quan chính là tổ chức, cá nhân sử dung thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất — kỹ thuật của mình dé thực hiện cuộc biểu dién, ban ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan. Thứ nhất về người biểu diễn và cuộc biểu diễn: Công ước Rome 1961 có định nghĩa: “Người biếu diễn là các diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học, nghệ thuật”.
Hiệp ước WPPT của WIPO năm 1996, đưa ra khái niệm người biéu diễn được mở rộng hon: “Người biểu diễn là diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công, và những người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, thể hiện, diễn xuất hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật hoặc những thể hiện tác phẩm văn học dân gian Gì Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thé về người biểu diễn nhưng có quy định về người biéu diễn tại Điều 16 Luật SHTT 2005 như sau: “Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi chung là người biểu diễn) ”. Pháp luật quốc tế hay pháp luật Việt Nam hiện nay đều chưa có quy định thé nào là cuộc biểu diễn. Xuất phát từ thực tẾ cuộc sống, ta thấy cuộc biểu ° Diéu 3 Céng udc Rome 1961 ° Điều 2 Hiệp ước WPPT 12 diễn có thé là một chương trình ca nhạc, một trận dau bóng đá, một chương trình sự kiện, một chương trình ảo thuật,. Các tô chức, cá nhân đầu tư tài chính và các điều kiện vật chất khác dé thực hiện cuộc biểu diễn sẽ là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan.
Như vậy, người biểu diễn cũng có thể là chủ sở hữu của cuộc biểu diễn nếu đầu tư tài chính và các điêu kiện vật chat khác đê thực hiện cuộc biêu dién đó. Thứ hai, về bản ghi âm, ghi hình và NSX bản ghi âm, ghi hình. Pháp luật quốc tế chưa có định nghĩa cụ thể về bản ghi hình hay NSX bản ghi hình mà chỉ nhắc tới bản ghi âm và NSX bản ghi âm trong một số DUQT.