CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Những khái niệm liên quan trong đề tài Đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa, cho nên các định nghĩa về tộc người, văn hóa tộc người, văn hóa của tộc người, bản sắc văn hóa, bảo tồn và phát triển văn hóa…là rất cần thiết trong đề tài. Sau đây là các định nghĩa được định nghĩa các phổ biến nhất từ các nhà dân tộc học, các học giả trong và ngoài nước: Tộc người là một định nghĩa quan trọng, nhưng để định nghĩa về tộc người khó có thể đưa ra một cách hiểu sao cho khái quát và bao trùm được hết ý nghĩa của nó. Các nhà Dân tộc học Xô viết đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: Theo nhà Dân tộc học M.
Sirocogorov: “Tộc người là một cộng đồng người nói cùng một ngôn ngữ, chung một nguồn gốc và có cùng các đặc điểm quan trọng khác như phong tục, tập quán, truyền thống. Những tiêu chí này làm cho tộc người này khác với tộc người khác. Bromlei “Tộc người được hiểu là một tập đoàn người ổn định có mối liện hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ, kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa. Mỗi tộc người đều có ý thức về nguồn gốc tộc người của mình.”4 Đề tài nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa cho nên các định nghĩa về văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người là cần thiết: Văn hóa tộc người “được hiểu là bao gồm tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể giúp cho việc phân biệt tộc người này và tộc người khác.
Ngô Văn Lệ : Tộc Người và văn hóa tộc người, NXB ĐQG TP. HCM, trang 20-21 4 PGS. Ngô Văn Lệ : Tộc Người và văn hóa tộc người, NXB ĐQG TP. HCM, trang 21 5 Nhân học đại cương, Đh QG TP.HCM, trường Đh KHXH và NV, nxb Đh QG TP.HCM, trang 74 13 Văn hóa của tộc người “là tổng thể những thành tựu văn hóa thuộc về một tộc người nào đó, do tộc người đó sáng tạo ra hay tiếp thu vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch sử.”6 Bản sắc văn hóa: “thường được hiểu là những đặc điểm nổi bật và ổn định, tạo ra tính đồng nhất của con người ở các cấp độ cá nhân và nhóm, cũng như ở cấp độ toàn thể xã hội.
Nó được thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống như ý thức về nguồn cội, cách tư duy cách sáng tạo khoa học và nghệ thuật, phong cách sinh sống, phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, v.v…mà một dân tộc hay một cộng đồng người nào đó cùng chia sẻ với nhau và khu biệt họ với những dân tộc hay cộng đồng khác.”7 Bảo tồn văn hóa: “bản thân lĩnh vực văn hóa là rất rộng lớn và người ta thường gắn khái niệm bảo tồn văn hóa với những đối tượng cụ thể như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa phật giáo, bảo tồn văn hóa nông thôn…hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa.”8 Phát triển văn hóa: “là một tất yếu khách quan của sự vận động của lĩnh vực văn hóa nhằm đem tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người”9 1. Giới thiệu chung về xã N’Thôn Hạ 1. Điều kiện tự nhiên – vị trí địa lý Xã N’thôl hạ là một xã ở phía bắc huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng, với diện tự nhiên là 3.482,91 ha, chiếm 3,86% diện tích tự nhiên toàn Huyện, cách thị trấn Liên Nghĩa khoảng 12 km dọc theo quốc lộ 27 về phía Tây Bắc. Về ranh giới hành chính: N’Thôn Hạ giáp với các khu vực sau: 6 Nhân học đại cương, Đh QG TP.HCM, trường Đh KHXH và NV, nxb Đh QG TP.HCM, trang 73 7 Mai Văn Hai ( chủ biên), Mai kiệm: xã hội học văn hóa, nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội, trang 208 – 209.
Dương Phú Hiệp (chương trình KX.06, Hà Nội): quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, hội thảo khoa học bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập, chương trình KX.14/06-10, trường ĐH KHXH và nhân văn Tp.HCM, Khoa Văn Hóa Học, Tp.HCM – Biên Hòa 2009, trang 374. 9 nt 14 Phía Đông giáp với xã Liên Hiệp và Thị trấn Liên Nghĩa. Phía Tây giáp với xã Bình Thạnh. Phía Nam giáp xã Tân Hội.
Phía Bắc giáp xã Gia Lâm, Huyện Lâm Hà. Trên địa bàn xã có ba dạng địa hình chính: núi thấp, đồi thấp cao nguyên và thung lũng hẹp. Từ đó, tạo nên 1 vùng khí hậu ôn hòa, lượng mưa khá, hầu như không có bão, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Lịch sử hình thành và thành phần tộc người Xã N’thôn Hạ là cộng đồng đa tộc người với dân cư chủ yếu là người Cơ Ho Chil chiếm khoảng 70% dân số, còn khoảng 15% thuộc nhóm Cơ Ho khác như Srê,…; Bên cạnh đó, có người Kinh, Thái, Tày, Nùng, Hoa, Mường… với tỷ lệ không đáng kể.
Địa bàn xã là một cộng đồng đa tộc người, các tộc người đã trải qua quá trình chung sống lâu đời. Đó là sự kết hợp giữa cư dân tộc người tại chỗ với cư dân di cư từ các vùng phía Bắc và các vùng khác. Biến động dân cư tại địa bàn xã diễn ra trong khoảng những năm trước và sau năm 1975. Để đánh dấu cho sự hình thành cộng đồng tại xã phải lùi về lịch sử từ năm năm 60 của thế kỷ XX.
Năm 1963, với chính sách dồn dân lập ấp của chế độ cũ, một bộ phận quan trọng người Chil, người Lạt đã di dời từ Đà Lạt và huyện Lạc Dương hiện nay xuống Huyện Đức Trọng và đến cư trú tại xã N’thôn Hạ. Về nguồn gốc xuất thân của người Chil có hai luồng tư tưởng khác nhau: Thứ nhất, “xếp người Chil thành một nhóm tộc người riêng biệt trong thống kê dân tộc học của tỉnh Lâm Đồng”10; thứ hai, Mạc Đường cho rằng “nhóm Chil là nhóm lai Mnông với Cơ ho và sự chuyển đổi, hòa nhập từ Chil thành một nhóm của Cơ Ho là một quá trình lâu dài”11 hay có nhiều tác giả trong tài liệu dân tộc học cho rằng, người Chil là một bộ phận của người Mnông. Hiện nay hầu như các 10 Mạc Đường: Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, sở văn hóa tỉnh Lâm đồng, XB 1983, trang 30. 11 Bùi Minh Đạo (chủ biên) – Vũ Thị Hồng : Dân tộc Cơ Ho ở Việt Nam, trung tâm KHXH và NVQG viện Dân Tộc Học, NXB.
15 công trình nghiên cứu đã chứng tỏ người Chil đã hòa nhập vào cộng đồng Cơ Ho, trở thành một nhóm địa phương của Cơ Ho và là tộc người tại chỗ sống lâu đời ở mảnh đất Lâm Đồng cũng như tại địa bàn xã. Như vậy, xã N’thôn Hạ được hình thành đầu tiên với cư dân người Cơ Ho trong đó chiếm đa số là nhóm Cơ Ho Chil. Ban đầu, Buôn của đồng bào dân tộc ít người ngoài N’thôn Hạ còn bao gồm cả các buôn Hiệp Thạnh, Phú Hội thuộc Huyện Đức Trọng. Buôn đồng bào sống ổn định cho đến năm 1975 và sau đó được định hình lại.
N’thôn Hạ gồm 8 Buôn. Đến năm 1978, cắt đi một buôn, còn lại 7 buôn ứng với 7 thôn ngày nay, gồm: Thôn Đoàn Kết, Buôn Rơm, Srê Đăng, Thái Sơn, Lạch Tông, Bia Ray, Yang Ly. Đối với các tộc người khác như : Kinh, Hoa, Tày, Thái, Nùng, Mường, Mèo, Cao Lan, Sán Chỉ. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, thực dân Pháp đã di cư họ vào miền nam khoảng 100.000 người và phần lớn nhóm dân tộc vùng thượng du Bắc Bộ đều đến tập trung tại Tùng nghĩa, Huyện Đức Trọng và dần chuyển cư vào xã N’thôn Hạ.
Cho đến nay, hằng năm vẫn có di cư tự do đến địa bàn xã, trong đó người Kinh chiếm đa số. Tình hình cộng đồng tộc người tại xã N’Thôn Hạ hiện nay Xã N’thôn Hạ là một xã mà đồng bào dân tộc thiếu sổ chiếm tới 93% dân số, là đồng bào gốc Tây Nguyên, đời sống gặp nhiều khó khăn, đời sống dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu. Đề tài nghiên cứu chọn mốc 1990 đến năm 2010 nhằm thấy được sự thay đổi một cách nhanh nhóng tại địa bàn xã và đời sống cộng dồng đa tộc người trong một giai đoạn chịu tác động bởi nhiều yếu tố trong tình hình của đất nước và chính sách của nhà nước tại địa bàn xã. Từ trước năm 1990 tại địa bàn xã, cuộc sống của đồng bào rất khó khăn, điện – đường – trường – trạm chưa đáp ứng được cho đồng bào tại xã.
Phần lớn cuộc sống của đồng bào là kinh tế tự cung tự cấp, đồng bào đốt nương làm rẫy, kinh tế nông nghiệp có phổ biến nhưng không phát triển, với kỹ thuật canh tác thô sơ (dùng gậy chọc lỗ…), chăn nuôi các loại gia súc như : trâu, bò…để phục vụ cho việc cúng tế và sản xuất (sản xuất lúa nước tại đồng bằng). Từ sau 1990, 16 với sự thiên cư của người Kinh đến và chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước, xã bắt đầu có sự thay đổi về mọi mặt. Từ năm 1990 đến năm 2000, đời sống kinh tế vẫn còn rất khó khăn, được xếp vào xã đói nghèo. Hình thức kinh tế tại xã được chuyển đổi qua mỗi giai đoạn từ kinh tế hợp tác xã lớn đến hợp tác xã nhỏ và hộ gia đình.
Từ năm 2000 đến năm 2005, xã được hưởng chương trình 135 – chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi; chương trình 134, 167 – chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn. Qua các chương trình đó, từ năm 2002 cơ sở hạ tầng xã được đầu tư phát triển, điện đường trường trạm đều được xây dựng, tạo nhiều điều kiện cho đời sống của đồng bào, việc chuyển đổi khoa học kỹ thuật như cung cấp giống cây trồng mới năng xuất cao thay cho các giống kém hiệu quả, không đạt chất lượng (các loại bắp, rau màu…). Tuy nhiên hoạt động kinh tế của đồng bào làm theo mùa vụ phụ thuộc vào yếu tố thời tiết, nếu điều kiện thuận lợi thì đồng bào sản xuất đủ ăn, nếu thời tiết xấu thì đồng bào phải nhịn đói.