Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ VÀ TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG MÂY TRE ĐAN PHÚ TÚC 1. Một số khái niệm cơ bản và cách tiếp cận văn hóa làng nghề 1. Khái niệm bảo tồn Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, ta có thể hiểu như sau: Bảo tồn giá trị văn hoá được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của giá trị văn hoá theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy giá trị văn hoá có nghĩa là những hành động nhằm đưa giá trị văn hoá vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hoá đối với sự phát triển của xã hội.
Đối với quan niệm bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn văn hóa được hiểu là các nỗ lực nhằm bảo vệ, gìn giữ sản phẩm văn hóa (vốn được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử) và không gian tồn tại của nó theo dạng thức vốn có. Nghĩa là, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật chất và tinh thần cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại. Song vấn đề đặt ra, văn hóa luôn gắn bó với đời sống con người, với môi trường xã hội trong sự vận động của nó. Bởi vậy, khuynh hướng bảo tồn nguyên vẹn cũng bộc lộ một số hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa.
Đối với quan niệm bảo tồn trên cơ sở kế thừa, bảo tồn văn hóa được các học giả nước ngoài hiện quan tâm nhiều nhất là khi bàn đến di sản. Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 12 of 98. 12 Hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa trong mối quan hệ với phát huy, mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển xã hội. Với ý nghĩa đó, khái niệm bảo tồn giá trị văn hóa cần được hiểu đó là những nỗ lực nhằm lưu giữ và kế thừa những gì được xem là giá trị văn hóa truyền thống đã, đang và còn tiếp tục tạo nên năng lực nội sinh, là động lực cho sự phát triển văn hóa – xã hội hiện tại và tương lai của mỗi tộc người, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia dân tộc.
Khái niệm phát huy Phát huy trên cơ sở sàng lọc, duy trì và làm phong phú thêm những nét đẹp văn hóa vốn có. Phát huy giá trị văn hóa là những hành động hướng đích nhằm đưa sản phẩm văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, trở thành tiềm năng và nội lực góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người. Phát huy giá trị văn hóa - đó là những hành động hướng đích nhằm đưa giá trị văn hóa vào trong thực tiễn xã hội với tư cách vừa là môi trường an toàn để bảo tồn và làm giàu các giá trị văn hóa, vừa là năng lực nội sinh và tiềm năng mang lại những lợi ích về vật chất và tinh thần cho con người, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội. Khái niệm giá trị văn hóa Giá trị văn hóa là sự đánh giá mang tính cộng đồng đối với những hiện tượng, sản phẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định.
Những giá trị đó được coi là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con người trong mọi thời đại. Một khi những giá trị đó hình thành và được định hình thì nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành vi, tình cảm của con người trong mỗi cộng đồng ấy. Giá trị văn hóa về thực chất là sự khẳng định của con người đối với sự tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo thang giá trị mà cộng đồng xã hội tôn vinh. Bên cạnh những giá trị tổng quát (yêu nước, cộng đồng, cần cù, hiếu học, gắn bó huyết thống và làng bản) còn tồn tại giá trị bộ phận.
Giá trị này Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 13 of 98. 13 được thể hiện trong từng lĩnh vực hoạt động của con người như: trong khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong ăn uống, đi lại, phong tục tập quán, lễ hội… Những giá trị bộ phận không phải là những thực thể riêng biệt mà chúng góp phần chung đúc nên các giá trị văn hóa tổng quát và ngược lại. Quan điểm về bảo tồn 1. Bảo tồn nguyên vẹn Trước đây đã từng có quan niệm bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn văn hóa được hiểu là các nỗ lực nhằm bảo vệ, gìn giữ sản phẩm văn hóa (vốn được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử) và không gian tồn tại của nó theo dạng thức vốn có.
Nghĩa là, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật chất và tinh thần cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại. Song vấn đề đặt ra, văn hóa luôn gắn bó với đời sống con người, với môi trường xã hội trong sự vận động của nó, nhất là di sản văn hóa phi vật thể. Chính vì vậy mà quan điểm bảo tồn nguyên vẹn sẽ không phải là cách tiếp cận của trường hợp nghiên cứu này. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm có bài viết “Bảo tồn và phát huy” hay “kế thừa và phát triển” văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” được in trong cuốn kỷ yếu hội thảo 60 năm đề cương văn hoá Việt Nam (1943-2013) có nêu ra quan điểm: “Bảo tồn” là giữ lại, không để bị mất đi, không thể bị thay đổi, biến hoá hay biến thái…Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”.
Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 14 of 98. 14 tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn”. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa Bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến giá di sản văn hoá nói chung và quản lý di sản văn hoá nói riêng. Quan điểm này dựa trên cơ sở mỗi di sản văn hoá cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể.
Khi giá trị di sản văn hoá ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại, di sản văn hoá ấy cần phát huy giá trị văn hoá - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy. Nếu như quan điểm bảo tồn nguyên vẹn gặp khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh, và giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào, thì quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa gặp phải khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần phải loại bỏ, cũng cần phải khuyến cáo rằng sự loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hoá mà chúng ta chưa hiểu biết một cách sâu sắc và thấu đáo. Quan điểm về phát huy Xung quanh vấn đề phát huy di sản văn hoá phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn đề. Song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản văn hoá phi vật thể nói chung và giá trị văn hoá làng nghề nói riêng là làm sao khơi dậy được ý thức của cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản văn hoá phi vật thể, để di sản văn hoá ấy sống trong cộng đồng như đúng bản chất của nó.
Trong công tác phát huy, vấn đề luôn được đặt ra đó là truyền dạy, tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ có những hiểu biết về làng nghề với những giá trị văn hoá truyền thống của nó. Chính đây là cây cầu để chúng ta đưa những giá trị văn hoá làng nghề với cộng đồng và Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 15 of 98. 15 hơn thế cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh ra văn hoá làng nghề, mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu thêm và phát huy nó trong đời sống xã hội. Làng nghề và văn hoá làng nghề 1.
Khái niệm làng nghề Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn được cấu tạo bởi hai yếu tố làng và nghề. Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng ở nông thôn nước ta, mà ở đó tồn tại những tập hợp dân cư cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau. Nghề ở đây là những nghề phi nông nghiệp được tiến hành trong phạm vị làng và gắn chặt với làng. Tuy nhiên không phải bất kỳ làng nào có nghề cũng được gọi là làng nghề.
Để được công nhận là làng nghề thì làng nghề đó phải thể hiện được cả mặt định tính và định lượng của nó.