Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vấn đề giải phóng phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới là mục tiêu mang tính toàn cầu đã được khẳng định qua nhiều giai đoạn lịch sử. Từ thế kỷ XIX, nhà tư tưởng Charles Fourier đã nhận định trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội, luận điểm này tiếp tục được củng cố trong học thuyết Mác. Tại Việt Nam, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là nền tảng cốt lõi của xã hội. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực gia đình (BLGĐ) nói chung và bạo lực đối với phụ nữ nói riêng vẫn là một vấn đề xã hội nhức nhối, từng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ ra là một trong những tồn tại hạn chế của ngành.

Tại địa bàn xã Vinh Tiền (huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ) – một xã vùng cao đặc biệt khó khăn, đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, mặt bằng dân trí chưa đồng đều. Các tư tưởng phong kiến lạc hậu, đặc biệt là tư tưởng "trọng nam khinh nữ" vẫn tồn tại dai dẳng, khiến người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần. Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn diễn biến phức tạp, tạo ra rào cản lớn cho sự phát triển của địa phương và đời sống của các hộ gia đình. Khóa luận tốt nghiệp ngành Công tác xã hội của tác giả Triệu Văn Điệp được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp cho vấn đề này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:

  • Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
    2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
    3. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Vinh Tiền.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập qua các năm 2019, 2020, 2021; số liệu sơ cấp được khảo sát trong thời gian 4 tháng, từ tháng 3 năm 2022 đến tháng 6 năm 2022.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu ứng dụng ba lý thuyết nền tảng của tâm lý học và công tác xã hội:

  • Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1950): Phân cấp 5 bậc thang nhu cầu của con người từ thấp đến cao (nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn/an ninh, nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu phát huy bản ngã). Lý thuyết này giải thích việc phụ nữ bị bạo lực bị đe dọa trực tiếp đến nhu cầu cơ bản nhất là an toàn tính mạng và sức khỏe, làm cản trở quá trình hiện thực hóa các nhu cầu tâm lý và xã hội bậc cao.
  • Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm của Carl Rogers (1951): Tiếp cận dựa trên niềm tin vào bản chất con người, tôn trọng tiềm năng tự phục hồi và tự phát triển của thân chủ. Trong công tác xã hội với nạn nhân bị bạo lực, nhân viên xã hội giữ vai trò hỗ trợ, thấu cảm và thúc đẩy thân chủ tự nhận thức, tự giải phóng tiềm năng để vượt qua sang chấn.
  • Lý thuyết nhận thức của Albert Ellis: Nền tảng của trị liệu nhận thức - hành vi, cho rằng nhận thức và suy nghĩ quyết định cảm xúc và phản ứng hành vi. Do đó, việc thay đổi các hành vi bạo lực hoặc thay đổi thái độ cam chịu của nạn nhân đòi hỏi phải điều chỉnh các mô thức nhận thức sai lệch xuất phát từ định kiến giới.

Về mặt pháp lý, đề tài căn cứ vào các văn bản quốc tế và hệ thống pháp luật Việt Nam:

  • Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW 1981); Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ (1993); Kế hoạch hành động Hội nghị Dân số và Phát triển (Cai-rô, 1994); Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995).
  • Hiến pháp năm 2013; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và 2014; Luật Trẻ em; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Các nghị định và thông tư hướng dẫn: Nghị định số 08/2009/NĐ-CP; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP; Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg; các Thông tư của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (TT 23/2011/TT-BVHTTDL, TT 24/2011/TT-BVHTTDL, TT 02/2010/TT-BVHTTDL, TT 23/2014/TT-BVHTTDL); Thông tư liên tịch TTLT 13/2016, TTLT 143/2011; Thông tư 16/2009/TT-BYT của Bộ Y tế.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, hồ sơ thống kê của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các tổ chức đoàn thể xã Vinh Tiền; tổng quan các tài liệu nghiên cứu đã công bố liên quan đến phụ nữ và bạo lực gia đình.
  • Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Tiến hành điều tra trên mẫu gồm 200 người dân trên địa bàn xã Vinh Tiền (trong đó có 180 phụ nữ, 20 nam giới đã kết hôn và có 25 cán bộ phụ trách các ban ngành: Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Trẻ em, Hội Phụ nữ, Công an, Y tế xã).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo thôn, lãnh đạo UBND xã, cán bộ quản lý phụ nữ và đại diện các hộ gia đình; sử dụng thiết bị ghi âm và ghi chép nhanh đối với các trường hợp nhạy cảm.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp đời sống sinh hoạt, điều kiện sức khỏe và môi trường xã hội của phụ nữ tại các khu dân cư.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê kinh tế - xã hội (thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích tỷ trọng, số tương đối, số tuyệt đối) và phương pháp phân tích kinh tế để làm rõ các yếu tố tác động và mối liên hệ giữa các biến số.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm công cụ trong nghiên cứu:

  • Khái niệm gia đình và bạo lực gia đình: Phân tích gia đình dưới góc độ xã hội học và pháp lý (Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Xác định bạo lực gia đình theo Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và định nghĩa của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1993.
  • Các hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ:
    1. Bạo lực thể xác: Hành vi cố ý xâm hại thân thể, đánh đập, dùng hung khí hoặc ngăn cản tiếp cận y tế, nhu cầu vật chất thiết yếu.
    2. Bạo lực tinh thần: Lăng mạ, chì chiết, cô lập, xúc phạm danh dự, kiểm soát hoặc phớt lờ cảm xúc gây sang chấn tâm lý kéo dài.
    3. Bạo lực tình dục: Cưỡng ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn, xem phụ nữ là công cụ tình dục, các hành vi tình dục gây đau đớn.
    4. Bạo lực về tài chính (kinh tế): Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản, ép buộc lao động quá sức hoặc kiểm soát triệt để thu nhập nhằm tạo sự lệ thuộc.
  • Quy định pháp lý và vai trò của nhân viên công tác xã hội: Hệ thống hóa nguyên tắc phòng chống, quyền và nghĩa vụ của nạn nhân (Điều 5), nghĩa vụ của người gây bạo lực (Điều 4), trách nhiệm của cá nhân, gia đình, Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ (Điều 31, 32, 33, 34 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007). Xác định rõ chức năng của nhân viên công tác xã hội trong việc đánh giá tâm lý, lập kế hoạch can thiệp, trị liệu phục hồi sang chấn và kết nối chuyển gửi nạn nhân đến các cơ sở tạm lánh (như Ngôi nhà Bình yên, trung tâm bảo trợ xã hội).

Chương 2: Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Chương 2 trình bày bức tranh thực tế về điều kiện tự nhiên, dân sinh và tình hình bạo lực gia đình tại địa phương:

  • Đặc điểm địa bàn: Xã Vinh Tiền có 362 hộ với 1.491 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc cùng sinh sống: dân tộc Dao (chiếm 76%), dân tộc Mường (chiếm 16%), dân tộc Kinh (chiếm 8%). Địa hình đồi núi dốc, giao thông có tuyến Quốc lộ 32, 32A, 32B và Tỉnh lộ 316C, 316D, 616E đi qua. Toàn xã mới đạt 5/19 tiêu chí nông thôn mới (26,31%), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng ở mức 19,8%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 0,8%.
  • Đặc điểm nhóm phụ nữ được khảo sát (n = 180):
Tiêu chí phân loại Phân nhóm Số lượng (Người) Tỷ trọng (%)
Theo ngành nghề Nông dân 150 83,3
Công nhân viên chức 10 5,5
Công nhân 5 2,7
Kinh doanh, buôn bán 5 2,7
Ngành nghề khác 10 5,5
Theo thu nhập Dưới 3 triệu đồng/tháng 150 83,3
Từ 3 đến 5 triệu đồng/tháng 15 8,3
Từ 5 đến 7 triệu đồng/tháng 10 5,5
Trên 7 triệu đồng/tháng 5 2,7
Theo trình độ học vấn Mù chữ 30 16,6
Tiểu học (Cấp 1) 70 38,8
Trung học cơ sở (Cấp 2) 40 22,2
Trung học phổ thông (Cấp 3) 30 16,6
Trung cấp / Cao đẳng / Đại học 5 2,7
Trên Đại học 5 2,7
Tổng số 180 100,0
  • Diễn biến số vụ bạo lực gia đình giai đoạn 2019 - 2021: Tổng số vụ bạo lực được ghi nhận và xử lý trong giai đoạn là 45 vụ, có xu hướng giảm dần qua các năm: 25 vụ (năm 2019), 15 vụ (năm 2020) và 5 vụ (năm 2021).
Tiêu chí thống kê Phân loại cụ thể Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng giai đoạn
Theo phân bố địa bàn Trung tâm xã 4 5 1 10
Thôn Bương 2 2 1 5
Thôn Mận Gạo 1 3 1 5
Thôn Đồng Thi 3 4 2 9
Thôn Đồng Khoai 3 2 1 6
Thôn Lương Sơn 5 4 1 10
Theo hình thức bạo lực Bạo lực thể xác 17 10 3 30
Bạo lực tinh thần 8 5 2 15
Bạo lực tình dục 0 0 0 0
Bạo lực kinh tế 0 0 0 0
Theo biện pháp xử lý Xử phạt hành chính 20 12 3 35
Cấm tiếp xúc 3 2 0 5
Áp dụng biện pháp giáo dục 4 1 0 5
Tổng số vụ việc 25 15 5 45
  • Thực trạng phản ứng của nạn nhân: Nghiên cứu chỉ ra 51,8% phụ nữ bị bạo lực chọn cách im lặng, không chia sẻ với bất kỳ ai. Số người tìm kiếm sự hỗ trợ phân tán: 27,3% kể với anh/chị ruột; 24,5% chia sẻ với bạn bè; 20,9% kể với bố mẹ đẻ; chỉ có 4,3% trình báo lãnh đạo địa phương và 3,6% tìm đến tổ hòa giải.
  • Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình đối với phụ nữ:
Nguyên nhân Số vụ Tỷ lệ (%)
Do tác động của chất kích thích (rượu, bia) 15 33,3
Nam giới có tư tưởng muốn kiểm soát gia đình 10 22,2
Áp lực về kinh tế 10 22,2
Tư tưởng truyền thống, gia trưởng 5 11,1
Các nguyên nhân khác (ghen tuông, xích mích) 5 11,1
Tổng số 45 100,0
  • Hậu quả của bạo lực gia đình:
    • Về thể chất: Gây thương tật, suy giảm sức khỏe, bệnh mãn tính. Văn bản ghi nhận các trường hợp điển hình như: chị Cương bị chồng đánh trật khớp tay và chấn thương vùng đầu; cô Loan bị chồng đấm, tát gây sưng mắt, má và tổn thương đỉnh đầu; bà Hoa bị chồng say rượu dùng gậy đánh gây trật khớp vai và bầm tím lưng.
    • Về sức khỏe sinh sản: Gia tăng nguy cơ sảy thai, sinh non, viêm nhiễm đường sinh sản, mang thai ngoài ý muốn.
    • Về tinh thần: Trên 50% phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình rơi vào trạng thái trầm cảm, lo âu, stress sau chấn thương, rối loạn giấc ngủ và hoảng loạn.
  • Thực trạng công tác tuyên truyền phòng, chống bạo lực gia đình (khảo sát n = 200):
    • Mức độ thường xuyên của tuyên truyền: 30,4% cho biết được tuyên truyền thường xuyên; 66,1% đánh giá không thường xuyên; 3,5% cho rằng không có tuyên truyền.
    • Đánh giá nội dung: 70,7% nhận xét nội dung phù hợp; 29,3% đánh giá chưa phù hợp.
    • Hình thức tuyên truyền (loa phát thanh, họp dân, khẩu hiệu): 70,6% phản ánh không được áp dụng thường xuyên (nhiều thôn như Đồng Thi, Đồng Khoai hệ thống loa truyền thanh bị hỏng chưa sửa chữa, thiếu khẩu hiệu); 19,2% đánh giá thường xuyên; 10,2% có áp dụng.
    • Mức độ quan tâm của người dân: 60,7% rất quan tâm; 26,8% quan tâm; 12,5% không quan tâm.

Chương 3: Một số giải pháp góp phần giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân và thực trạng, chương 3 đề xuất 3 nhóm giải pháp chính:

  • Đánh giá chung và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình:
    • Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền pháp luật (Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình); sửa chữa, nâng cấp hệ thống loa truyền thanh tại các thôn Đồng Thi, Đồng Khoai; bổ sung pano, khẩu hiệu tuyên truyền tại nhà văn hóa.
    • Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp liên ngành giữa Ủy ban nhân dân xã, Công an xã, Hội Phụ nữ và các tổ hòa giải cơ sở trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực.
    • Lồng ghép tiêu chí phòng, chống bạo lực gia đình vào phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và bình xét danh hiệu Gia đình văn hóa hàng năm.
  • Giải pháp nâng cao năng lực cho người phụ nữ:
    • Tăng cường phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ năng sống giúp phụ nữ xóa bỏ mặc cảm, tự tin bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân.
    • Hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm, hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng chính sách nhằm nâng cao thu nhập, giảm dần tình trạng phụ thuộc kinh tế vào nam giới.
  • Giải pháp chuyên môn của nhân viên Công tác xã hội:
    • Thực hiện quy trình trợ giúp cá nhân: tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ tổn thương thể chất và tâm lý, xây dựng kế hoạch trị liệu phục hồi sang chấn cho nạn nhân.
    • Đóng vai trò cầu nối, kết nối chuyển gửi nạn nhân đến các cơ sở bảo trợ xã hội, Ngôi nhà Bình yên của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong các tình huống khẩn cấp cần nơi tạm lánh an toàn.
    • Hỗ trợ nạn nhân trong suốt quá trình hòa giải, can thiệp pháp lý và đồng hành trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận đã phản ánh trung thực thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại một xã miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ với các kết quả cụ thể:

  • Làm rõ thực trạng số lượng và các hình thức bạo lực: Giai đoạn 2019 - 2021 ghi nhận 45 vụ bạo lực gia đình trên địa bàn (năm 2019 có 25 vụ, năm 2020 có 15 vụ, năm 2021 giảm còn 5 vụ). Bạo lực thể xác chiếm tỷ lệ cao nhất với 30 vụ (66,7%), bạo lực tinh thần có 15 vụ (33,3%), trong khi chưa ghi nhận trường hợp bạo lực tình dục và bạo lực tài chính chính thức nào trong báo cáo hành chính.
  • Xác định các nguyên nhân chủ yếu: Tác động của rượu, bia và chất kích thích là nguyên nhân hàng đầu chiếm 33,3% (15 vụ); tiếp theo là tư tưởng muốn kiểm soát gia đình của nam giới (22,2% - 10 vụ) và áp lực kinh tế (22,2% - 10 vụ); tư tưởng gia trưởng truyền thống chiếm 11,1% (5 vụ).
  • Phản ánh rào cản tâm lý và hạn chế truyền thông: 51,8% nạn nhân không chia sẻ sự việc với bất kỳ ai, tỷ lệ trình báo chính quyền rất thấp (4,3%). Hoạt động tuyên truyền tại địa phương còn gián đoạn với 66,1% người dân đánh giá chưa thường xuyên do cơ sở vật chất (loa truyền thanh ở thôn Đồng Thi, Đồng Khoai) bị hư hỏng.
  • Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận chuyên ngành Công tác xã hội kết hợp với hệ thống pháp luật hiện hành; đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng cấp cơ sở giúp chính quyền xã Vinh Tiền và huyện Tân Sơn nhìn nhận rõ các lỗ hổng trong công tác an sinh xã hội và bảo vệ phụ nữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian hẹp tại một xã vùng cao (xã Vinh Tiền) với cơ cấu dân tộc thiểu số đặc thù (76% dân tộc Dao), thời gian khảo sát thực địa ngắn (4 tháng, từ 03/2022 đến 06/2022). Các số liệu về bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế chưa được phản ánh đầy đủ trên hồ sơ hành chính do tính chất nhạy cảm và sự e ngại của nạn nhân trong việc khai báo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận thuộc huyện Tân Sơn để so sánh; phát triển các nghiên cứu chuyên sâu về bạo lực vô hình (bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế) trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số; thử nghiệm và đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp công tác xã hội chuyên biệt tại cộng đồng miền núi.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Luật học, Giới và Phát triển khi nghiên cứu về bạo lực trên cơ sở giới ở vùng nông thôn, miền núi.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng số liệu khảo sát thực tế về nhân khẩu học, thu nhập, học vấn và phản ứng của phụ nữ trước hành vi bạo lực tại địa bàn vùng sâu vùng xa.
    • Phân tích vai trò và quy trình kết nối dịch vụ của nhân viên công tác xã hội đối với nạn nhân bạo lực gia đình theo khung chính sách của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khóa luận được thực hiện tại địa bàn nào và có đặc điểm dân cư ra sao?
    Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Địa bàn có 362 hộ, 1.491 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc cùng sinh sống: dân tộc Dao (76%), dân tộc Mường (16%) và dân tộc Kinh (8%).

  2. Tỷ lệ phụ nữ làm nông nghiệp và có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng trong mẫu khảo sát là bao nhiêu?
    Trong số 180 phụ nữ được khảo sát tại xã Vinh Tiền, có 150 người làm nghề nông (chiếm 83,3%) và 150 người có mức thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng (chiếm 83,3%).

  3. Hình thức bạo lực gia đình nào diễn ra phổ biến nhất trong các vụ việc được ghi nhận tại xã Vinh Tiền giai đoạn 2019 - 2021?
    Trong tổng số 45 vụ việc được ghi nhận, bạo lực thể xác là hình thức phổ biến nhất với 30 vụ (chiếm 66,7%), còn lại là 15 vụ bạo lực tinh thần (chiếm 33,3%).

  4. Khi bị bạo lực gia đình, đa số phụ nữ tại xã Vinh Tiền có phản ứng như thế nào?
    Có 51,8% phụ nữ bị bạo lực chọn cách im lặng không chia sẻ với ai; chỉ 4,3% trình báo lãnh đạo địa phương và 3,6% tìm đến tổ hòa giải.

  5. Nguyên nhân trực tiếp nào chiếm tỷ lệ cao nhất dẫn đến các vụ bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong nghiên cứu?
    Nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là do người chồng sử dụng chất kích thích (rượu, bia), dẫn đến 15 vụ bạo lực (chiếm 33,3% tổng số vụ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Văn Điệp đã phản ánh toàn diện thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2019 - 2021. Bằng việc kết hợp các lý thuyết công tác xã hội với dữ liệu khảo sát thực địa, tác giả đã chỉ rõ các dạng thức bạo lực, nhóm nguyên nhân cốt lõi liên quan đến lạm dụng rượu bia, định kiến giới và áp lực kinh tế. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các nhóm giải pháp từ hoàn thiện công tác tuyên truyền, nâng cao năng lực cho phụ nữ đến các biện pháp can thiệp chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội nhằm hướng tới giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình tại địa phương.