Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động mua sắm công tại Việt Nam hiện chiếm khoảng 20% đến 30% tổng chi tiêu ngân sách Nhà nước hàng năm, đóng vai trò đòn bẩy then chốt đối với sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Để quản lý nguồn vốn công hiệu quả và phòng ngừa thất thoát, Luật Đấu thầu năm 2013 đã thiết lập cơ chế bảo đảm dự thầu bắt buộc, trong đó bảo lãnh dự thầu qua ngân hàng chiếm trên 85% tổng số các biện pháp bảo đảm trong thực tế mua sắm hàng hóa. Tuy nhiên, tình trạng nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu ảo, vi phạm cam kết, rút lui sau khi mở thầu hoặc gian lận tính pháp lý của thư bảo lãnh diễn ra phức tạp, gây thiệt hại ước tính hàng trăm tỷ đồng và kéo dài thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu từ 30 đến 60 ngày cho mỗi dự án. Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế năm 2020 của tác giả Ngô Thị Ngọc Hà tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giải quyết trực diện các bất cập lý luận và rào cản thực thi pháp luật về bảo lãnh dự thầu. Nghiên cứu tập trung đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2020, đối chiếu trực tiếp với các chuẩn mực quốc tế tại Hiệp định Mua sắm Chính phủ GPA của WTO và Hiệp định CPTPP. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn, hỗ trợ hoàn thiện thể chế đấu thầu, giúp các cơ quan quản lý giảm thiểu từ 40% đến 50% rủi ro tranh chấp phát sinh trong quan hệ bảo lãnh và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết về Quan hệ nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Lý thuyết Quản trị mua sắm công hiện đại gắn liền với các nguyên tắc tự do cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Mô hình nghiên cứu phân tích toàn diện cấu trúc quan hệ 3 bên gồm: Bên mời thầu (bên thụ hưởng), Bên dự thầu (bên được bảo lãnh) và Tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh). Bốn khái niệm pháp lý trọng tâm được xác lập rõ ràng:

  • Đấu thầu mua sắm hàng hóa: Quá trình chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật và chi phí thấp nhất theo quy định tại Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2013.
  • Bảo lãnh dự thầu: Biện pháp bảo đảm đối nhân, trong đó tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài cam kết bằng văn bản thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho nhà thầu nếu vi phạm quy định dự thầu theo Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2013.
  • Đặt cọc: Biện pháp đối vật thông qua việc chuyển giao một khoản tiền hoặc séc vào tài khoản bên mời thầu theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Ký quỹ: Biện pháp phong tỏa tài sản tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được tổng hợp từ hơn 150 văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế cùng các báo cáo tổng kết công tác đấu thầu toàn quốc giai đoạn 2013 - 2020. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 120 hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa thuộc các dự án vốn ngân sách và 35 vụ việc tranh chấp bảo lãnh ngân hàng thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) được sử dụng để phân loại các nhóm gói thầu theo quy mô từ dưới 5 tỷ đồng trong chào hàng cạnh tranh đến các gói thầu phức tạp trên 100 tỷ đồng. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh luật học kết hợp định tính và định lượng là nhằm bóc tách sự tương thích giữa Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017 với các chuẩn mực Hiệp định GPA năm 2012 và Chương 15 Hiệp định CPTPP năm 2018, qua đó chỉ ra chính xác các khoảng trống pháp lý cần khắc phục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện căn bản trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh dự thầu mua sắm hàng hóa tại Việt Nam:

  • Hình thức bảo lãnh dự thầu bằng thư bảo lãnh ngân hàng chiếm tỷ lệ áp đảo 88% trong các gói thầu mua sắm hàng hóa, trong khi ký quỹ và đặt cọc bằng séc chỉ chiếm khoảng 12% do các doanh nghiệp muốn bảo toàn thanh khoản lưu động.
  • Tỷ lệ vi phạm nghĩa vụ dự thầu dẫn đến việc bên mời thầu yêu cầu tịch thu tiền bảo lãnh chiếm khoảng 15% tổng số vụ việc tranh chấp, chủ yếu tập trung vào hành vi tự ý rút hồ sơ dự thầu sau thời điểm đóng thầu hoặc từ chối đối chiếu tài liệu và ký kết hợp đồng.
  • Quy định về mức giá trị bảo lãnh dự thầu từ 1% đến 3% giá gói thầu và thời hạn hiệu lực bằng thời gian hiệu lực của hồ sơ dự thầu cộng thêm 30 ngày theo Điều 11 Luật Đấu thầu năm 2013 bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý khi áp dụng cho quy trình chào hàng cạnh tranh rút gọn dưới 1 tỷ đồng.
  • Việc triển khai bảo lãnh điện tử qua Hệ thống Mạng Đấu thầu Quốc gia theo Thông tư 04/2017/TT-BKHĐT mới chỉ kết nối được với khoảng 35% ngân hàng thương mại, dẫn đến 65% trường hợp còn lại nhà thầu vẫn phải scan thư bảo lãnh giấy và nộp bản gốc, gây nguy cơ phát sinh chứng từ giả mạo và chậm trễ xét thầu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật đấu thầu và pháp luật ngân hàng, đặc biệt là quy định về điều kiện giải tỏa nghĩa vụ bảo lãnh và cơ chế thanh toán vô điều kiện của ngân hàng khi có văn bản yêu cầu từ bên mời thầu. So sánh với chuẩn mực Hiệp định GPA năm 2012 và Chương 15 Hiệp định CPTPP, pháp luật quốc tế chú trọng đánh giá toàn diện năng lực nhà thầu và tối đa hóa việc ứng dụng các phương tiện điện tử để xóa bỏ rào cản thương mại. Trong phân tích thực chứng, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cơ cấu các biện pháp bảo đảm dự thầu và bảng ma trận so sánh rủi ro pháp lý giữa bảo lãnh truyền thống với bảo lãnh số hóa (e-guarantee). Qua bảng so sánh này, cơ chế bảo lãnh điện tử trực thông (STP) giúp loại bỏ hoàn toàn nguy cơ làm giả chứng từ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục phát hành bảo lãnh từ 2 đến 3 ngày làm việc xuống chỉ còn dưới 15 phút.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thi hành chế định bảo lãnh dự thầu, luận văn kiến nghị 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Sửa đổi Điều 11 Luật Đấu thầu năm 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP theo hướng phân nhóm linh hoạt tỷ lệ bảo lãnh dự thầu từ 0.5% đến 1.5% đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng dưới 5 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2025, giúp giảm 50% gánh nặng chi phí vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Tích hợp bắt buộc 100% hệ thống cấp bảo lãnh của các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam với Hệ thống Mạng Đấu thầu Quốc gia trước năm 2024, chuẩn hóa mẫu thư bảo lãnh điện tử và thiết lập mã định danh duy nhất cho từng bảo lãnh nhằm tự động hóa quá trình xác thực dữ liệu.
  • Nâng cao tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với tổ chuyên gia và bên mời thầu theo Điều 116 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, đặt mục tiêu 100% thành viên thẩm định hồ sơ phải có chứng chỉ hành nghề đấu thầu chuyên nghiệp và tối thiểu 3 năm kinh nghiệm thực tế về mua sắm hàng hóa công.
  • Ban hành quy định chi tiết về thời hạn bắt buộc tổ chức tín dụng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bảo lãnh trong vòng 30 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ vi phạm hợp lệ, đồng thời áp dụng chế tài cấm tham gia đấu thầu từ 1 đến 3 năm đối với các nhà thầu có hành vi gian lận hồ sơ bảo lãnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bên mời thầu và Chủ đầu tư dự án công: Nhận diện chính xác các kẽ hở pháp lý và tiêu chuẩn kiểm tra tính hợp lệ của thư bảo lãnh ngân hàng, bảo vệ 100% quyền lợi thụ hưởng ngân sách khi nhà thầu vi phạm nghĩa vụ.
  • Nhà thầu và Doanh nghiệp cung ứng hàng hóa: Nắm vững quy trình phát hành bảo lãnh ngân hàng, kiểm soát các điều kiện hiệu lực của hồ sơ dự thầu và phòng tránh 90% các lỗi kỹ thuật dẫn đến việc bị tịch thu tiền bảo lãnh dự thầu.
  • Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng: Chuẩn hóa quy trình cấp tín dụng bảo lãnh đấu thầu theo Thông tư 07/2015/TT-NHNN và Thông tư 13/2017/TT-NHNN, kiểm soát rủi ro pháp lý và nợ xấu phát sinh từ nghĩa vụ thanh toán bảo lãnh.
  • Học viên cao học, Giảng viên và Nhà nghiên cứu Luật Kinh tế: Khai thác hệ thống luận cứ khoa học chuyên sâu, số liệu thực tiễn và khung so sánh quốc tế đối với các cam kết mua sắm chính phủ trong GPA và CPTPP.

Câu hỏi thường gặp

Bảo lãnh dự thầu khác gì so với đặt cọc và ký quỹ trong đấu thầu mua sắm hàng hóa? Bảo lãnh dự thầu là biện pháp bảo đảm đối nhân bằng uy tín và cam kết thanh toán của ngân hàng theo Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngược lại, đặt cọc theo Điều 328 và ký quỹ theo Điều 330 là các biện pháp đối vật, đòi hỏi nhà thầu phải giao nộp tiền hoặc tài sản phong tỏa, gây ứ đọng từ 1% đến 3% vốn lưu động trong suốt quá trình tham gia dự thầu.

Mức giá trị bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa được quy định như thế nào? Căn cứ Khoản 3 Điều 11 Luật Đấu thầu năm 2013, giá trị bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu từ 1% đến 3% giá gói thầu. Đối với các gói thầu quy mô nhỏ có giá trị dưới 10 tỷ đồng hoặc áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh, tỷ lệ này thường được ấn định từ 1% đến 1.5% giá gói thầu nhằm khuyến khích cạnh tranh.

Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh dự thầu được xác định ra sao? Theo Điều 11 Luật Đấu thầu năm 2013, thời gian có hiệu lực của bảo lãnh dự thầu được quy định bằng thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu cộng thêm 30 ngày. Khoảng thời gian bổ sung 30 ngày này là điều kiện pháp lý bắt buộc để bên mời thầu thực hiện các thủ tục đánh giá hồ sơ, phê duyệt kết quả và hoàn thiện hợp đồng.

Nhà thầu không được nhận lại tiền bảo lãnh dự thầu trong những trường hợp nào? Căn cứ Khoản 8 Điều 11 Luật Đấu thầu năm 2013, nhà thầu bị tịch thu tiền bảo lãnh nếu rút hồ sơ dự thầu sau thời điểm đóng thầu, vi phạm các hành vi bị cấm theo Điều 89, hoặc không tiến hành đối chiếu tài liệu, từ chối hoàn thiện và ký kết hợp đồng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận thông báo trúng thầu.

Bảo lãnh dự thầu điện tử qua mạng có giá trị pháp lý như thế nào? Theo Thông tư 04/2017/TT-BKHĐT và Thông tư 07/2016/TT-BKHĐT, thư bảo lãnh điện tử phát hành trực tiếp qua Hệ thống Mạng Đấu thầu Quốc gia có giá trị pháp lý đầy đủ như văn bản gốc, giúp cắt giảm 100% thời gian luân chuyển chứng từ giấy và ngăn chặn nguy cơ làm giả hồ sơ bảo lãnh.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2020.
  • Làm rõ cấu trúc quan hệ 3 bên giữa Bên mời thầu, Bên dự thầu và Tổ chức tín dụng, chỉ ra các điểm xung đột giữa pháp luật đấu thầu và pháp luật ngân hàng.
  • Phân tích sâu sắc các tiêu chuẩn mua sắm công quốc tế tại Hiệp định GPA của WTO và Hiệp định CPTPP, tạo cơ sở đối chiếu cho tiến trình hội nhập thương mại.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp luật, chuẩn hóa bảo lãnh điện tử, nâng cao năng lực tổ chuyên gia và hoàn thiện chế tài thu hồi tiền bảo lãnh.
  • Lộ trình thực thi đồng bộ các kiến nghị trong giai đoạn 2021 - 2025 sẽ nâng cao tính minh bạch và tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí mua sắm công trên phạm vi cả nước.

Độc giả hãy tra cứu và tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Ngô Thị Ngọc Hà để tiếp cận chi tiết hệ thống luận cứ, các bảng biểu phân tích thực chứng và mô hình pháp lý chuyên sâu về bảo lãnh dự thầu tại Việt Nam.