Chương 1 Chỉ thị 2015/2436 của Nghị viện Liên minh Châu Âu quy định về nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào, cụ thể là những từ ngữ, bao gồm tên riêng, hoặc kiểu dáng, chữ cái, chữ số, màu sắc, hình dạng của hàng hoá hoặc bao bì hàng hoá, hoặc âm thanh, miễn là những dấu hiệu đó có khả năng: (i) Phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một bên với hàng hóa hoặc dịch vụ của bên khác và; (ii) Được đại diện trên sổ đăng ký theo cách cho phép các cơ quan có thẩm quyền và công chúng xác định vấn đề rõ ràng và chính xác của sự bảo hộ dành cho chủ sở hữu của nó4. Trong khi đó, tại Việt Nam, khái niệm về nhãn hiệu được quy định cụ thể trong Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)5. Theo đó, nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc và có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Có thể thấy, WIPO, Hiệp định TRIPs hay Chỉ thị 2015/2436 của Nghị viện Liên Minh Châu Âu đều mở rộng khái niệm về nhãn hiệu, miễn các dấu hiệu này có khả 3 “A trademark is a sign capable of distinguishing the goods or services of one enterprise from those of other enterprises”, xem thêm tại: <https://www.int/trademarks/en/>, truy cập ngày 06.
4 Article 3 of Directive (EU) 2015/2436: “Signs of which a trade mark may consist a trade mark may consist of any signs, in particular words, including personal names, or designs, letters, numerals, colours, the shape of goods or of the packaging of goods, or sounds, provided that such signs are capable of: (a) distinguishing the goods or services of one undertaking from those of other undertakings; and (b) being represented on the register in a manner which enables the competent authorities and the public to determine the clear and precise subject matter of the protection afforded to its proprietor”. Xem toàn văn Chỉ thị tại: <https://eur-lex.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A32015L2436>, truy cập ngày 08. 5 Luật Sở hữu trí tuệ số 42/2019/QH14 do Quốc hội Khóa XIV thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2019, có hiệu lực thi hành ngày 01/11/2019. Xem toàn văn tại: <https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Van-ban- hop-nhat-07-VBHN-VPQH-2019-Luat-So-huu-tri-tue-nam-2005-424231.aspx>, truy cập ngày 09.
3 năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một bên so với bên khác thì đều được chấp nhận thì quy định của pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu đã thu hẹp phạm vi bảo hộ hơn, bắt buộc nhãn hiệu phải là các dấu hiệu nhìn thấy được, điều đó đồng nghĩa với việc những dấu hiệu không thể nhìn thấy bằng mắt thường như âm thanh, mùi hương, xúc giác… sẽ không được xem là nhãn hiệu và không được đăng ký bảo hộ. Khái niệm về nhãn hiệu sẽ được mỗi quốc gia quy định khác nhau, phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị và nhu cầu của quốc gia đó. Tuy nhiên, vấn đề này sẽ một phần nào đó tạo ra sự không thống nhất về cách hiểu cũng như việc áp dụng thực tiễn giữa các quốc gia, chính vì vậy, việc đồng nhất về khái niệm nhãn hiệu là một điều thiết yếu. Hiện nay, nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu tại các nước ngày càng tăng, tuy nhiên, khung pháp lý bảo hộ nhãn hiệu tại mỗi nước khác nhau nên dẫn đến những bất cập trong việc thực thi cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động cạnh tranh lành mạnh, lợi ích chính đáng của các chủ sở hữu nhãn hiệu trong môi trường kinh doanh quốc tế.
Quy định về các dấu hiệu có thể được đăng ký bảo hộ là một trong những sự khác nhau trong chế độ bảo hộ nhãn hiệu giữa các quốc gia. Đặc biệt, đối với các dấu hiệu phi truyền thống, khác với các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu theo quan niệm truyền thống, sự chấp nhận để bảo hộ nhãn hiệu này giữa các quốc gia có những sự khác biệt đáng kể. Theo Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế (International Trademark Association - INTA), nhãn hiệu được phân loại thành hai loại chính là nhãn hiệu truyền thống (conventional trademark) và nhãn hiệu phi truyền thống (non- conventional trademark). Nhãn hiệu truyền thống, vốn hay được gọi là nhãn hiệu thông thường (ordinary trademark), bao gồm tên riêng, từ ngữ, chữ cái, chữ số và hình ảnh có thể được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Có thể phân loại thành ba loại nhãn hiệu sau đây: - Nhãn hiệu cá nhân/riêng (Individual mark): Là một nhãn hiệu riêng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một bên so với hàng hóa, dịch vụ của một bên khác. Nhãn hiệu 4 này có thể đăng ký dưới tư cách thể nhân hoặc pháp nhân, điều này có nghĩa là có thể có nhiều người cùng nộp đơn6. - Nhãn hiệu chứng nhận (Certification marks): Là nhãn hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ được chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận về chất liệu, phương thức sản xuất hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ, chất lượng, độ chính xác hoặc các đặc điểm khác, ngoại trừ chỉ dẫn địa lý7. Nhãn hiệu được sử dụng để chỉ ra rằng hàng hóa, dịch vụ tuân thủ các yêu cầu chứng nhận của cơ quan hoặc tổ chức chứng nhận.
Bất kỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào, bao gồm các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền đều có thể đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thuộc loại được chứng nhận. - Nhãn hiệu tập thể (Collective marks): Dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một nhóm người, công ty hoặc thành viên của hiệp hội, tổ chức với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Nhãn hiệu có thể được sử dụng để xây dựng lòng tin của người tiêu dùng đối với các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp dưới nhãn hiệu tập thể. Chúng thường được sử dụng để xác định các sản phẩm có chung một đặc tính nhất định8.
Ví dụ, Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (International Committee of the Red Cross) sử dụng nhãn hiệu tập thể để tách các thành viên và dịch vụ của mình khỏi các tổ chức tương tự khác, đồng nghĩa với việc những tổ chức đó không được phép sử dụng nhãn hiệu của Ủy ban vì họ đã có danh tiếng và độ tin cậy nhất định trên toàn thế giới. Nhãn hiệu phi truyền thống, từ khi Quy định (EU) 2017/1001 của Nghị viện Liên minh Châu Âu về nhãn hiệu có hiệu lực9, đã có nhiều sự thay đổi liên quan đến khái niệm nhãn hiệu10 cũng như bổ sung thêm một số loại nhãn hiệu như: 6 European Union Intellectual Property Office – EUIPO (2017), What can be an EU trade mark, <https://euipo.eu/ohimportal/vi/what-can-be-an-eu-trade-mark>, truy cập ngày 08. 7 Article 83 (1) of Regulation (EU) 2017/1001 of the European Parliament and of the Council of 14 June 2017 on the European Union trademark. Xem toàn văn Quy định tại: <https://eur-lex.eu/legal- content/EN/TXT/?qid=1506417891296&uri=CELEX:32017R1001>, truy cập ngày 08.
8 European Union Intellectual Property Office – EUIPO (2017), Certification and Collective Marks, <https://euipo.eu/ohimportal/vi/certification-and-collective-marks>, truy cập ngày 12. 9 Xem Quy định (EU) 2017/1001 về nhãn hiệu Liên Minh Châu Âu tại: <https://eur-lex.eu/legal- content/EN/TXT/?qid=1506417891296&uri=CELEX:32017R1001>, truy cập ngày 09. 10 Theo Ủy ban pháp luật về nhãn hiệu, kiểu dáng và chỉ dẫn địa lý (Standing Committee on the Law of Trademarks, Industrial Designs and Geographical Indications - SCT), nhãn hiệu truyền thống thường bị hạn 5 - Nhãn hiệu vị trí (Position marks): Là nhãn hiệu mà các dấu hiệu được đặt, dán, xuất hiện ở một vị trí bất kỳ trên sản phẩm. Việc nộp đơn đăng ký loại nhãn hiệu này yêu cầu người nộp đơn phải xác định đúng vị trí của nhãn hiệu và kích thước hoặc tỷ lệ của nó đối với sản phẩm.
Hơn nữa, người nộp đơn có thể đính kèm bản mô tả để giải thích cách đặt, dán dấu hiệu lên sản phẩm. Ví dụ, dấu hiệu bao gồm hai đường thẳng song song được định vị trên bề mặt bên ngoài của phần trên của giày, đường thứ nhất chạy từ giữa mép đế giày và dốc ngược về phía mu bàn chân, đường thứ hai chạy song song với đường thứ nhất và tiếp tục chạy theo một đường cong về phía sau đến gót giày và kết thúc ở mép đế chiếc giày11. - Nhãn hiệu mẫu (Pattern marks): Là nhãn hiệu tập hợp các thành tố được lặp lại thường xuyên. Nhãn hiệu phải được thể hiện bằng cách sắp xếp để cho thấy dấu hiệu được lặp lại nhiều lần.
Đối với loại nhãn hiệu này, khi đăng ký bảo hộ có thể kèm theo bản mô tả chi tiết cách mà các thành tố của nó được lặp lại thường xuyên. Ví dụ, dấu hiệu là một kiểu mẫu không bị giới hạn về kích thước được nhân bản thành nhiều dấu hiệu giống nhau12. chế trên mặt phẳng, bao gồm chữ cái, hình vẽ, biểu tượng, tổ hợp màu sắc,… còn đối với nhãn hiệu phi truyền thống bao gồm nhiều dạng hình thái khác nhau. SCT cho rằng phạm vi của nhãn hiệu phi truyền thống rất rộng, gồm nhãn hiệu ba chiều, nhãn hiệu màu, nhãn hiệu đoạn phim, câu quảng cáo, nhãn hiệu động, nhãn hiệu vị trí, nhãn hiệu cử chỉ, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu vị và nhãn hiệu nhận biết bằng xúc giác.
Trong khi đó, theo INTA và Hiệp hội quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (International Association for the Protection of Intellectual Property – AIPPI), nhãn hiệu phi truyền thống chủ yếu bao gồm nhãn hiệu là thiết kế hoặc hình dáng của sản phẩm, nhãn hiệu màu, nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu nhận biết bằng vị giác, nhãn hiệu nhận biết bằng xúc giác và nhãn hiệu động. Bên cạnh đó, nhiều học giả cho rằng, nhãn hiệu phi truyền thống là các loại nhãn hiệu không thuộc nhóm những nhãn hiệu truyền thống đã được bảo hộ rộng rãi ở hầu hết các nước, là loại nhãn hiệu mới xuất hiện. Tóm lại, chúng ta có thể tiến hành phân loại nhãn hiệu phi truyền thống căn cứ vào dấu hiệu nhận biết bằng thị giác. Xem thêm: Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn - Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2018), Tổng quan về nhãn hiệu phi truyền thống, đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu cơ sở và lý luận thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và mùi”, tr.
11 Đơn đăng ký nhãn hiệu vị trí tại Châu Âu số EUTM008586489 cho Nhóm 25 về sản phẩm giày dép, xem thêm tại: <https://euipo.eu/eSearch/#details/trademarks/008586489>, truy cập ngày 10. 12 Đơn đăng ký nhãn hiệu mẫu tại Châu Âu số EUTM005365754 cho các Nhóm 9, 41, 42, 44. Xem thêm tại: <https://euipo.eu/eSearch/#basic/1+1+1+1/50+50+50+50/005365754>, truy cập ngày 10.