Chương 1: Lý luận về bảo hộ nhãn hiệu Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu. 5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU 1. Khái niệm nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Khái niệm và vai trò nhãn hiệu 1.1 Khái niệm nhãn hiệu Nghiên cứu của các nhà khảo cổ học đã xác định được những dấu hiệu đầu tiên trên thế giới ra đời từ thời cổ đại, khi những người thợ hoặc công trường thủ công sử dụng những dấu hiệu riêng trên đồ gốm, đồ trang sức, vũ khí… để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của người khác khi thực hiện việc trao đổi, buôn bán các sản phẩm đó [16, tr5].
Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế thị trường tiền tư bản, các dấu hiệu đó trở thành một công cụ quan trọng để giúp cho người mua, người tiêu dùng dễ dàng phân biệt hàng hóa của nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác. Dấu hiệu để nhận biết này được gọi là “nhãn hiệu”. Như vậy, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác. Từ những nhãn hiệu đầu tiên mang tính truyền thống như từ ngữ hay biểu tượng, phạm vi dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu không ngừng được mở rộng [25, tr90].
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 (Hiệp định TRIPs) là điều ước quốc tế đầu tiên đưa ra khái niệm nhãn hiệu tại Khoản 1 Điều 15, theo đó: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các 6 mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu” [9]. Như vậy, theo Hiệp định TRIPs, việc xác định một dấu hiệu bất kỳ có thể đăng ký làm nhãn hiệu hay không là căn cứ vào mục đích sử dụng và tính phân biệt của các dấu hiệu đó. Đây cũng là cách tiếp cận mang tính phổ biến của nhiều quốc gia khi đưa ra khái niệm về nhãn hiệu trong pháp luật của mình, hình thành một cách hiểu chung tương đối thống nhất về nhãn hiệu.
Tại Hoa Kỳ, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được quy định trong Luật nhãn hiệu hàng hóa (Lanham Act năm 1946), trong đó quy định: “Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng (…) để mặc định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả hàng hóa đặc chủng với những hàng hóa cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi người khác để chỉ rõ nguồn gốc đó và không có nhãn hiệu hàng hóa nào có khả năng phân biệt hàng hóa của người nộp đơn với những hàng hóa của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào sổ đăng ký (15U. Pháp cũng là một trong những nước có quy định về nhãn hiệu sớm nhất với đạo luật được ban hành ngày 23/6/1857, sau đó được sửa đổi qua nhiều giai đoạn. Đến năm 1996, sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, nước Pháp ban hành đạo luật sửa đổi Bộ luật sở hữu trí tuệ cho phù hợp với quy định của hiệp định TRIPs. Khái niệm về nhãn hiệu của Pháp được định nghĩa rộng và mang tính mở.711-1 của Bộ luật sở hữu trí tuệ Pháp định nghĩa nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu sản xuất, nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng hình họa dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của thể nhân hoặc pháp nhân.
Những dấu hiệu có thể cấu thành nhãn hiệu là những dấu hiệu sau: (i)tên gọi dưới mọi hình thức như: từ, tổ hợp từ, tên họ, tên địa lý, 7 biệtdanh, chữ cái, chữ số, các chữ viết tắt; (ii) những dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, câu nhạc; (iii) những dấu hiệu hình như: hình vẽ, nhãn hiệu, con dấu, biên vải (lisière), hình nổi (relief), hình ảnh ba chiều (hologramme); logo, hình ảnh tổng hợp, hình dáng, kể cả hình dáng của sản phẩm hoặc hình dáng bao bì đóng gói hoặc dịch vụ, cách sắp xếp màu sắc, phối hợp màu sắc hoặc phối hợp sắc thái màu sắc” [1, tr47-48]. Như vậy, theo định nghĩa này, có ba loại dấu hiệu chính có thể cấu thành nhãn hiệu là dấu hiệu tên gọi, dấu hiệu âm thanh và dấu hiệu hình ảnh. Ngoài ra, một số nước cũng đưa ra các dấu hiệu được coi là nhãn hiệu như: Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của Australia là “âm thanh, mùi vị có thể được đăng kí. Thêm vào đó, nhãn hiệu hàng hóa được đăng kí ngay cả khi chúng không có sẵn tính phân biệt với điều kiện là nhãn hiệu hàng hóa đó đã đạt được tính phân biệt thông qua sử dụng” [12,tr16]; nhãn hiệu hàng hóa của Trung Quốc năm 2001 bao gồm “từ ngữ, hình ảnh, chữ cái, chữ số, dấu hiệu ba chiều, sự kết hợp của màu sắc và sự kết hợp của các yếu tố đó có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa” [27].
Điều 6, Chương II về Quyền SHTT, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa như sau: “nhãn hiệu hàng hoá được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người với hàng hoá hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc hình dạng của bao bì hàng hoá. Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” [8]. Như vậy, có thể thấy, bất kỳ dấu hiệu nào để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của tổ chức/cá nhân này với hàng hóa hoặc dịch vụ của tổ chức/cá nhân khác được coi là nhãn hiệu. 8 Kế thừa những những ưu điểm của việc xác định nhãn hiệu, Điều 4 Luật SHTT 2005 định nghĩa về nhãn hiệu: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Đây là một khái niệm mang tính khái quát và phù hợp với thực tiễn cũng như quy định của các điều ước quốc tế. Điều này được hiện ở các điểm sau: - Thứ nhất: “nhãn hiệu” dùng để chỉ những dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các loại nhãn hiệu hiện nay còn gồm “nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu nổi tiếng”. - Thứ hai: Khái niệm đã xác định chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
- Thứ ba: Khái niệm không đưa ra giới hạn hay liệt kê những yếu tố được đăng ký là nhãn hiệu. Vai trò của Nhãn hiệu Thứ nhất, Nhãn hiệu có vai trò phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác. Nhãn hiệu giúp cho người dùng phân biệt các sản phẩm, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau và nhận biết được nguồn gốc của những sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu đó hay dễ dàng nhận ra các loại sản phẩm, dịch vụ có chất lượng hoặc đã từng quen dùng. Nhà nghiên cứu Jenkins đã nói: “Nhãn hiệu đóng vai trò là một phương tiện xác định, với bốn mục tiêu cơ bản: (i) Nhãn hiệu là công cụ đánh dấu những hàng hóa mang chung một nhãn hiệu là xuất phát từ cùng một nguồn sản xuất; (ii) Nhãn hiệu đem lại cho người tiêu dùng sự đảm bảo về chất lượng hàng hóa bởi vì khi đã trở nên phổ biến, được nhiều người mua, chất lượng và giá trị của loại hàng hóa mang nhãn hiệu đó đã được khẳng định trên thị trường; (iii) Nhãn hiệu cho 9 phép nhà sản xuất phân biệt hàng hóa của họ với các đối thủ cạnh tranh khác; (iiii) Nhãn hiệu giúp thúc đẩy sự phát triển hàng hóa” [7, tr6].
Thứ hai, Nhãn hiệu có vai trò cung cấp thông tin về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Vài trò cung cấp thông tin về sản phẩm của nhãn hiệu được thể hiện thông qua chức năng phân biệt của Nhãn hiệu. Thông qua Nhãn hiệu quen thuộc, người sử dụng có thể dễ dàng nhận biết được công dụng, giá trị sử dụng, đặc tính hay nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ, qua đó, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không cần đọc hết các thông tin của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cũng có thể hiểu được các đặc tính, nguồn gốc…qua việc nhận biết Nhãn hiệu. Những thông tin này được gắn với Nhãn hiệu quen thuộc trong tiềm thức của khách hàng.
Vai trò cung cấp thông tin về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của Nhãn hiệu dần trở thành một phương tiện quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc tạo lập và giữ gìn, phát triển thị phần kinh doanh của mình. Thứ ba, Nhãn hiệu có vai trò quảng cáo và tiếp thị. Nhãn hiệu có vai trò phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác. Nhãn hiệu có thể được coi là một dấu hiệu đặc trưng, dấu hiệu nhận biết của một doanh nghiệp.
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các phương tiện truyền thông điện tử, Nhãn hiệu giúp cho nhiều người biết đến hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp hơn, cùng với vai trò cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó, Nhãn hiệu cũng góp phần truyền tải những thông tin cần thiết của hàng hóa, dịch vụ đến với người sử dụng, giúp họ nhận biết, lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường. Quyền sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu và đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Ngày nay, các hoạt động SHCN đa dạng và phong phú, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà còn mang tính toàn cầu.