Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ 1. KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƢỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ Trong bất kỳ một nền tƣ pháp nào, việc đƣa ra quyết định một công dân có tội hay không có tội là một việc làm hết sức quan trọng, nó không nhƣ̃ng ảnh hƣởng lớn đến danh dự, nhân phẩm, tài sản, tính mạng và các quyền, lợi ích của chính công dân đó , mà còn quyết định đến vận mệnh, tƣơng lai, cuộc sống của mỗi con ngƣời. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhiệm vụ quan trọng và nặng nề này thƣờng đƣợc trao cho Tòa án, cơ quan duy nhất có thẩm quyền đƣa ra phán quyết đối với một cá nhân vi phạm pháp luật. Trong hệ thống tƣ pháp, Tòa án giữ vai trò đặc biệt, ở hầu hết các nƣớc, hệ thống Tòa án thƣờng đƣợc trao nhiệm vụ bảo vệ các quyền con ngƣời, quyền công dân.
Bằng hoạt động xét xử của mình, Tòa án không những khôi phục những thiệt hại do hành vi phạm tội xâm hại đến quyền con ngƣời mà còn bảo đảm cho quyền con ngƣời trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án đƣợc tôn trọng và bảo đảm. Do vậy, quyền con ngƣời trong hoạt động xét xử bao gồm tất cả các lĩnh vực quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự. TS Nguyễn Ngọc Chí thì: Ở bình diện khái quát nhất, quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, trừng trị ngƣời phạm tội gây ra những thiệt hại cho các quyền và lợi ích hợp pháp của con ngƣời, của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ quyền con ngƣời; Thứ hai, khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo [79]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, theo PGS.
TS Nguyễn Ngọc Chí thì: Phạm vi quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự hẹp hơn, không bao gồm cả hai khuynh hƣớng trên mà chỉ là sự ghi nhận và bảo đảm quyền của những ngƣời dễ bị tổn thƣơng bao gồm: Ngƣời bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị tình nghi phạm tội hoặc ngƣời bị kết án tránh sự lạm dụng của ngƣời tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án [79]. Chúng tôi, chia sẻ quan điểm này và cho rằng quyền con ngƣời trong TTHS nói chung và trong hoạt động xét xử nói riêng bao gồm hai nhóm quyền: Quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trong tố tụng hình sự và quyền đƣợc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập. Những quyền con ngƣời này là tập hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định danh dự, nhân phẩm của con ngƣời trong mọi hoàn cảnh, bảo vệ các cá nhân khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng trong các hoạt động tố tụng hình sự. Quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trong xét xử Đây là quyền của ngƣời bị tình nghi phạm tội bị áp dụng những biện pháp ngăn chặn nhƣ: bắt, tạm giữ, tạm giam; ngƣời bị kết án phải chấp hành hình phạt tù trong các trại cải tạo và còn đƣợc mở rộng đến những đối tƣợng bị tạm giữ hành chính.
Mặc dù là những ngƣời này ít nhiều đã gây nguy hại cho xã hội hoặc bị tình nghi có hành vi gây nguy hại cho xã hội và hạn chế tự do nhƣng quyền của họ vẫn đƣợc ghi nhận và bảo đảm thi hành bằng biện pháp pháp luật. Quyền của những ngƣời này chiếm một vị trí quan trọng trong luật nhân quyền quốc tế và luật nhân quyền quốc gia. Các quyền cơ bản của ngƣời bị tƣớc tự do đƣợc bảo vệ tại Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) (ICCPR) và nhiều văn kiện khác nhƣ “Tập hợp các nguyên tắc bảo vệ tất cả những ngƣời bị 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giam hay cầm tù dƣới bất kỳ hình thức nào” đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 (bao gồm 39 nguyên tắc cụ thể); “Các quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc tự do” đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết 45/113 ngày 14/12/1990. Về cơ bản, những ngƣời bị tƣớc tự do đƣợc bảo đảm các quyền sau đây: a) Quyền đƣợc bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; b) Quyền đƣợc bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện; c) Quyền đƣợc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những ngƣời bị tƣớc tự do; d) Quyền thông tin, liên lạc với bên ngoài; e) Quyền có cơ chế khiếu nại, tố cáo hữu hiệu; f) Quyền đối với ngƣời chƣa thành niên.
Trong quá trình xét xử, tòa án có trách nhiệm bảo đảm những quyền con ngƣời kể trên khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cƣỡng chế trong quá trình giải quyết vụ án cũng nhƣ trong việc ra bản án và quyết định của tòa án. Quyền được xét xử công bằng “Quyền đƣợc xét xử công bằng” (right to a fair trial) là một nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao, tồn tại trong tấ t c ả các vụ án hình sự và phi hình sự. Pháp luật nhiều quốc gia quy định quyền này với quan niệm rằng nó là quyền thiết yếu (essential) trong mọi quốc gia pháp trị. Việc đối xử với một ngƣời khi họ bị buộc tội phản ánh rõ nhà nƣớc tôn trọng nhân quyền đến mức nào, bởi vậy, quyền đƣợc xét xử công bằng đã đƣợc coi là một hòn đá tảng (a cornerstone) của các xã hội dân chủ.
Giống nhƣ đặc tính của mọi nhân quyền là phụ thuộc lẫn nhau, quyền đƣợc xét xử công bằng với các quyền khác có mối quan hệ hai chiều. Một phiên toà công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con ngƣời nhƣ quyền sống, quyền đƣợc an toàn về thân thể, quyề n tự do ngôn luận. Ngƣợc lại, trong một xã hội không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân chủ, các quyền cơ bản của con ngƣời không đƣợc tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi ngƣời đều đƣợc xét xử công bằng. Quan hệ chặt chẽ giữa quyền đƣợc xét xử công bằng với pháp trị và dân chủ cũng đã đƣợc khẳng định chính thức trong Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng tại châu Phi.
Từ các văn bản pháp luật thì quyền đƣợc xét xử công bằng đƣợc hiểu nhƣ sau: Quyền được xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trong vụ án hình sự và của các bên trong vụ việc phi hình sự trước cơ quan tư pháp (công an, công tố và toà án), được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền cụ thể (như được bảo đảm quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi toà án độc lập, không thiên vị.) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công bằng, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân. Quyền đƣợc xét xử công bằng bao gồm những quyền cụ thể sau: a) Quyền bình đẳng trƣớc tòa án và đƣợc xét xử bởi tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; b) Quyền bào chữa; c) Quyền đƣợc xét xử theo thủ tục riêng của ngƣời chƣa thành niên; d) Quyền kháng cáo; e) Quyền đƣợc bồi thƣờng khi bị kết án oan; g) Quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội danh; h) Không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện đƣợc nghĩa vụ hợp đồng; i) Không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thành tội phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi; k) Không áp dụng hồi tố cũng đƣợc nghiên cứu khi đề cập đến quyền đƣợc xét xử công bằng. Nhƣ vậy, quyền con ngƣời trong hoạt động xét xử là quyền của ngƣời yếu thế, của ngƣời bị cáo buộc là phạm tội và họ đƣợc hƣởng những quyền lợi chính đáng, phù hợp với địa vị của họ. Quyền con ngƣời trong hoạt động xét xử có những đặc điểm sau: Thứ nhất: quyền con người trong hoạt động xét xử là quyền của người thuộc các nhóm người dễ bị tổn thương 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con ngƣời, trong đó định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [85, tr.
Nhƣ vậy, quyền con ngƣời đƣợc hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con ngƣời đƣợc thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Các quyền con ngƣời có thể gây cản trở lẫn nhau, chúng bị giới hạn bởi các quyền và tự do của ngƣời khác hay bởi các yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ [11, tr. Bên cạnh các cá nhân, chủ thể của quyền con ngƣời còn là các nhóm xã hội nhất định, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thƣơng. Quyền cá nhân đƣợc hiểu là "các quyền thuộc về mỗi cá nhân, bất kể họ có hay không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào, và việc hưởng thụ các quyền này là tùy thuộc ý chí của mỗi cá nhân" [79, tr.
Việc thừa nhận và bảo đảm các quyền của nhóm là hết sức cần thiết và quan trọng và phủ nhận tính phổ quát của quyền con ngƣời. Đồng thời, cũng không đi ngƣợc lại với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về quyền con ngƣời là nguyên tắc tất cả các quyền con ngƣời đƣợc áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi ngƣời. Nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng chiếm phần lớn trong nội dung về quyền của nhóm và cấu thành một bộ phận quan trọng của luật quốc tế về quyền con ngƣời. Hiện chƣa có một định nghĩa chính thức về nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng, tuy cụm từ này đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong các tài liệu, đặc biệt là các nghiên cứu về luật nhân quyền quốc tế.