Chương 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý về quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Chương 2: Khái quát chung về thực trạng bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) và những hạn chế, nguyên nhân trong việc bảo đảm quyền của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện việc bảo đảm quyền của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO 1.
Quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các điều ƣớc quốc tế và pháp luật của một số nƣớc 1. Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các điều ước quốc tế Quyền của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền pháp lý của cá nhân đang ở vào tình thế bất lợi vì họ bị tình nghi là đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong TTHS, họ có thể bị áp dụng một số biện pháp tố tụng ảnh hƣởng trực tiếp đến các quyền con ngƣời, quyền công dân của họ. Do vậy, các điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời quy định những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, các quyền này đƣợc áp dụng ở các quốc gia thành viên, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội.
Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về bảo vệ quyền con ngƣời nói chung và bảo vệ quyền của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng đƣợc quy định trong các công ƣớc quốc tế khác nhau. Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về quyền con ngƣời trong lĩnh vực dân sự và chính trị năm 1966 quy định ngƣời bị buộc tội có các quyền sau: + Quyền đƣợc coi là vô tội cho tới khi tội của ngƣời đó đƣợc chứng minh theo quy định của pháp luật. Họ không buộc phải chứng minh chống lại mình hoặc buộc tự thú là mình có tội; + Quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn vô nhân đạo hoặc nhục hình; + Quyền đƣợc yêu cầu xét xử trƣớc Tòa án do bị bắt hoặc giam giữ; + Quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại do bị bắt, giam giữ trái pháp luật [12]. Công Ƣớc Châu Âu về quyền con ngƣời 1950 đƣợc xem là một phần của pháp luật các nƣớc thuộc Liên Minh Châu Âu.
Nội dung về bảo vệ quyền của ngƣời bị 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com buộc tội trong giai đoạn điều tra VAHS (Điều 6) của Công ƣớc đƣợc xem xét dƣới 2 góc độ là bảo vệ quyền của ngƣời bị buộc tội trên cơ sở các nguyên tắc hoạt động tố tụng và góc độ các quy định cơ bản về quyền của ngƣời bị buộc tội (bao gồm cả ngƣời bị tạm giữ, bị can). Ngƣời bị buộc tội có các quyền sau đây (Điều 6.3): + Quyền đƣợc thông báo kịp thời về lý do họ bị buộc tội và đòi hỏi phải chính xác, đầy đủ để họ có điều kiện chuẩn bị cho việc bào chữa (Điều 6.3a); + Quyền đƣợc tạo điều kiện thuận lợi về thời gian thích hợp để chuẩn bị cho việc bào chữa và đƣợc xác định kể từ thời điểm từ khi ngƣời bị buộc tội tìm đƣợc NBC, khoảng thời gian này còn áp dụng cho cả NBC. Những quy định này thật sự là điểm tiến bộ trong việc đảm bảo quyền bào chữa - quyền quan trọng nhất của ngƣời bị buộc tội, việc đảm bảo này là cơ sở rất tốt cho việc bảo vệ các quyền của ngƣời bị buộc tội đạt đƣợc hiệu quả cao nhất (Điều 6.3b); + Quyền đƣợc tự bào chữa hoặc nhờ ngƣời khác bào chữa, nếu trƣờng hợp cần thiết mà ngƣời bị buộc tội không có khả năng tài chính để lựa chọn NBC thì họ sẽ đƣợc trợ giúp miễn phí, khoản tiền trả cho việc bào chữa sẽ đƣợc trích từ quỹ cộng đồng (Điều 6.3c); + Quyền đƣợc thu thập chứng cứ và kiểm tra chứng cứ do nhân chứng cung cấp chống lại anh ta. Trên thực tế, ngƣời bị buộc tội đƣợc tạo điều kiện tối đa (thƣờng thông qua NBC) để thu thập chứng cứ, đặt câu hỏi với ngƣời làm chứng về lời khai chống lại mình (Điều 6.3d); + Quyền đƣợc có phiên dịch miễn phí: khi ngƣời bị buộc tội không hiểu ngôn ngữ đang đƣợc sử dụng để chống lại anh ta (Điều 6.3e) [12]; Công ƣớc Châu Âu về quyền con ngƣời là kết quả của sự hợp tác khăng khít giữa các quốc gia trong cộng đồng Châu Âu trong việc nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền con ngƣời nói chung và ngƣời bị buộc tội nói riêng nên mức độ đảm bảo quyền của ngƣời bị buộc tội đƣợc chi tiết hóa ở mức độ đáng kể thông qua nguyên tắc của hoạt động tố tụng đó là nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó nội dung của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên tắc này đòi hỏi “Bất cứ người nào bị cáo buộc là đã thực hiện hành vi phạm tội sẽ được coi là vô tội cho đến khi chứng minh được anh ta phạm tội theo quy định của pháp luật”, vấn đề cốt lõi của nguyên tắc là “Mọi nghi ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội” [12, Điều 6.
Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước 1. Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng Hòa Pháp BLTTHS hiện hành của nƣớc Cộng hòa Pháp đƣợc ban hành vào ngày 31- 02-1957 và có hiệu lực vào năm 1958. Mặc dù không trực tiếp thể hiện khái niệm ngƣời bị tạm giữ, bị can, tuy nhiên căn cứ theo quy định pháp luật TTHS Cộng hòa Pháp thì một ngƣời chỉ có thể bị tạm giữ khi có những dấu hiệu cho phép suy đoán họ đã có hành vi hoặc có ý định phạm tội. Khi bị áp dụng biện pháp tạm giữ, ngƣời bị tạm giữ có các quyền sau: + Quyền yêu cầu thông báo về việc tạm giữ cho thân nhân trong gia đình nhƣ vợ, chồng, bố mẹ, ngƣời chủ lao động (Điều 63-2).
+ Quyền mời bác sĩ đến khám sức khỏe (Điều 63-3). + Lúc bắt đầu việc tạm giữ, ngƣời bị tạm giữ có thể yêu cầu đƣợc nói chuyện với LS (Điều 63-4) [11]. Khi ngƣời này không ở vào vị trí đƣợc lựa chọn một ngƣời, hoặc nếu không thể gặp đƣợc LS đƣợc lựa chọn, ngƣời này có thể yêu cầu chủ nhiệm đoàn LS chính thức chỉ định cho mình một LS. Chủ nhiệm đoàn LS đƣợc thông báo về yêu cầu này ngay sau đó bằng bất kì phƣơng tiện nào có thể.
LS đƣợc lựa chọn có thể trao đổi với ngƣời bị tạm giữ trong các điều kiện đƣợc đảm bảo sự bí mật của cuộc nói chuyện. Sau cuộc nói chuyện, không đƣợc kéo dài quá 30 phút, LS, nếu có cơ hội, đƣa ra nhận xét bằng văn bản để lƣu trong hồ sơ tố tụng. Khi thời hạn tạm giữ đƣợc gia hạn, ngƣời này cũng có thể yêu cầu nói chuyện với LS vào lúc bắt đầu việc gia hạn, theo các điều kiện và cách thức quy định. Tất cả những thủ tục tố tụng tiến hành trong thời gian tạm giữ đều đƣợc ghi vào biên bản tạm giữ.
Nếu không tuân thủ những thủ tục hành chính này thì Sĩ quan 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cảnh sát có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chịu trách nhiệm dân sự và văn bản do sỹ quan cảnh sát thực hiện sẽ bị hủy bỏ. Ngoài ra, BLTTHS của Cộng hòa Pháp quy định rất chi tiết các thủ tục tố tụng khi áp dụng các biện pháp cƣỡng chế tố tụng nhằm bảo đảm quyền của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo: + Khi khám nhà thì cần phải có ngƣời chứng kiến đồng thời Dự thẩm phải tiến hành mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo bí mật nghề nghiệp và quyền bào chữa của đƣơng sự, chỉ có thể lấy lời khai, hỏi cung, đối chất khi có mặt LS của đƣơng sự hoặc sau khi LS đã đƣợc triệu tập theo đúng quy định của pháp luật trừ trƣờng hợp các bên khƣớc từ quyền mời LS giúp đỡ. Hồ sơ vụ án đƣợc chuyển cho LS nghiên cứu trong thời gian hợp lý. Sau lần hỏi cung đầu tiên, LS của các bên có thể xin cấp bản sao toàn văn hoặc một phần các tài liệu có trong hồ sơ để sử dụng nhƣng không đƣợc sao lại.
+ Đối với biện pháp tạm giam: biện pháp này chỉ đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp cần thiết nhƣ để bảo vệ nhân chứng, ngăn chặn sự thông đồng của bị can với đồng phạm, để bảo vệ đƣơng sự trƣớc khi ra quyết định tạm giam, Dự thẩm phải thông báo cho bị can biết là bị can có một thời hạn để chuẩn bị bào chữa, quy định này cũng áp dụng đối với LS của bị can. Trong thời hạn tạm giam, nếu có những điều kiện nhất định thì ngƣời bị tạm giam hoặc LS của họ có thể yêu cầu Dự thẩm ra quyết định trả tự do cho bị can bị tạm giam (18, Điều 148) [11]. Trong trƣờng hợp ngƣời bị tạm giam sau đó đƣợc miễn tố, đƣợc tha bổng hoặc trắng án thì họ có thể đƣợc bồi thƣờng thiệt hại nếu việc tạm giam gây ra cho ngƣời đó thiệt hại nghiêm trọng (18, Điều 149) [11]. Hơn nữa, BLTTHS Cộng Hòa Pháp còn quy định Viện trƣởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm chỉ đƣợc tiến hành lấy căn cƣớc, lấy lời khai của đƣơng sự sau khi đã báo trƣớc cho đƣơng sự biết rằng đƣợc tùy ý lựa chọn khai hay không khai và hỏi xem đƣơng sự có đồng ý đƣợc chuyển đến cho thẩm phán điều tra có thẩm quyền hay muốn kéo dài hiệu lực của lệnh dẫn giải, chờ quyết định của thẩm phán điều tra thụ lý vụ việc và ở lại nơi đang bị bắt giữ.
Nếu không đồng ý việc chuyển đi đƣơng sự sẽ đƣợc dẫn giải đến trại giam, việc này phải 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.