Luận văn thạc sĩ luật học bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố điều tra truy tố xét xử vụ án hình sự

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2019

175
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH BUỘC TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT

2.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

2.2. Cơ sở, các yếu tố, yêu cầu, phương thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

2.3. Tiêu chuẩn đánh giá (hoặc xác định) hiệu quả bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

2.4. Lược khảo việc hình thành, phát triển chế định bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH BUỘC TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT

3.1. Thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

3.2. Những tồn tại, thiếu sót trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thời gian qua

3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT Ở CÁC GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ

4.1. Quan điểm định hướng tiếp tục bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

4.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và những văn bản hướng dẫn, giải thích pháp luật, chỉ đạo nghiệp vụ, hoàn thiện giáo trình lý luận nghiệp vụ

4.3. Giải pháp tăng cường hoạt động của Viện kiểm sát bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội

4.4. Giải pháp khác

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Quyền con người và người bị buộc tội

Quyền con người là nền tảng của hệ thống pháp luật hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Người bị buộc tội cần được bảo vệ các quyền cơ bản như quyền được suy đoán vô tội, quyền bào chữa, và quyền không tự buộc tội. Việc bảo đảm các quyền này không chỉ là trách nhiệm của Viện kiểm sát mà còn là yêu cầu của công lýhệ thống tư pháp. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc tôn trọng quyền con người trong quá trình chứng minh buộc tội, đặc biệt trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử.

1.1. Quyền được suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự. Người bị buộc tội phải được coi là vô tội cho đến khi có bản án chính thức. Việc áp dụng nguyên tắc này giúp ngăn chặn tình trạng oan sai và bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội. Luận án chỉ ra rằng, mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã ghi nhận nguyên tắc này, việc thực thi trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế.

1.2. Quyền bào chữa và tự do cá nhân

Quyền bào chữa là quyền cơ bản của người bị buộc tội, giúp họ có cơ hội bảo vệ mình trước tòa. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường quyền này trong quá trình chứng minh buộc tội. Đồng thời, quyền tự do cá nhân cũng cần được bảo đảm, đặc biệt trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giam, tạm giữ.

II. Chứng minh buộc tội và trách nhiệm của Viện kiểm sát

Chứng minh buộc tội là quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm. Viện kiểm sát đóng vai trò trung tâm trong quá trình này, vừa là cơ quan buộc tội, vừa là cơ quan bảo vệ quyền con người. Luận án phân tích sự cân bằng giữa hai vai trò này, đồng thời chỉ ra những thách thức mà Viện kiểm sát phải đối mặt trong việc bảo đảm công lý.

2.1. Trách nhiệm chứng minh buộc tội

Viện kiểm sát có trách nhiệm chứng minh tội phạm một cách khách quan và công bằng. Luận án nhấn mạnh rằng, việc chứng minh buộc tội phải dựa trên chứng cứ xác thực, tránh tình trạng bức cung, nhục hình. Đồng thời, Viện kiểm sát cần tuân thủ các quy định pháp luật để bảo đảm quyền lợi của người bị buộc tội.

2.2. Bảo vệ quyền con người trong chứng minh buộc tội

Luận án chỉ ra rằng, Viện kiểm sát cần thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền con người xuyên suốt quá trình chứng minh buộc tội. Điều này bao gồm việc đảm bảo quyền được suy đoán vô tội, quyền bào chữa, và quyền không tự buộc tội. Việc thực hiện tốt trách nhiệm này sẽ góp phần nâng cao niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp.

III. Thực tiễn bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

Luận án phân tích thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử. Kết quả cho thấy, mặc dù đã có nhiều cải tiến, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như oan sai, bức cung, và lạm dụng biện pháp ngăn chặn. Luận án đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế này.

3.1. Tồn tại và nguyên nhân

Luận án chỉ ra rằng, tình trạng oan sai, bức cung, và lạm dụng biện pháp ngăn chặn vẫn còn phổ biến. Nguyên nhân chính là do sự thiếu hiểu biết về quyền con người và áp lực từ phía cơ quan điều tra. Đồng thời, các quy định pháp luật còn nhiều bất cập, dẫn đến việc bảo đảm quyền lợi của người bị buộc tội chưa hiệu quả.

3.2. Giải pháp hoàn thiện

Luận án đề xuất các giải pháp như hoàn thiện pháp luật, tăng cường đào tạo cho cán bộ tư pháp, và nâng cao nhận thức về quyền con người. Đồng thời, Viện kiểm sát cần tăng cường giám sát và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật trong quá trình chứng minh buộc tội.

23/02/2025
Luận văn thạc sĩ luật học bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố điều tra truy tố xét xử vụ án hình sự

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài luận án nghiên cứu vấn đề mới nên không có công trình nghiên cứu nào có nội dung liên quan trực tiếp mà chỉ có một số ít công trình liên quan đến một số khía cạnh của luận án như lý luận và pháp luật về quyền con người nói chung thể hiện những tư duy lý luận mới của nền tư pháp hình sự tiến bộ là bảo vệ công lý, quyền con người. Nghiên cứu sinh tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu vị tri, vai trò của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nghiên cứu việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra hoặc hoạt động xét xử của Tòa án, việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội, quyền chứng minh vô tội, quyền không tự buộc tội, quyền bào chữa, tranh tụng, việc ghi âm, ghi hình có âm thanh khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can để chống bức cung, nhục hình trong giai đoạn điều tra nên Nghiên cứu sinh có thể khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài như sau: 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1.

Nhóm các tác phẩm, các giáo trình, công trình nghiên cứu (luận án, luận văn, bài viết) về các vấn đề lý luận và pháp luật về quyền con người, các chức năng, nguyên tắc tố tụng, thiết chế bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội Ở Việt Nam, lý luận chung về quyền con người được trình bày trong “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”-Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Hà Nội năm 2009 do Tiến sỹ Nguyễn Đăng Dung cùng đồng nghiệp (đồng chủ biên) đã nêu đầy đủ cơ sở lý luận và pháp luật về quyền con người mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo cho cơ sở lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong luận án. Về khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội có các công trình nghiên cứu như: Bài viết: “Quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự” của Tiến sỹ luật học Lê Hữu Thể và Thạc sỹ luật học Nguyễn Thị Hương (đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 18/2017) đã đưa ra 13 khái niệm quyền con người và quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, nêu ra quyền cơ bản và quyền tố tụng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự theo quy định của Hiến pháp năm 2013 như: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được suy đoán vô tội, quyền được tranh tụng, quyền bào chữa nhưng chưa đưa ra khái niệm quyền con người và quyền của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát mà Nghiên cứu sinh đề cập. Tiến sỹ luật học Phạm Văn Hùng với bài viết: “Hiến pháp năm 2013 với chế định bảo đảm quyền con người về tư pháp hình sự” (đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 16, kỳ II, tháng 08/2014) đã nêu các bảo đảm quyền con người về tư pháp hình sự theo Hiến pháp năm 2013 là: Bảo đảm sự đúng đắn trong việc bắt người, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình. Bảo đảm sự đúng đắn khi buộc tội, được xét xử kịp thời, công bằng, công khai.

Bảo đảm không bị kết án hai lần vì một tội phạm. Bảo đảm quyền bào chữa, được bồi thường thiệt hại mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để hoàn thiện luận án. Tuy nhiên do góc độ nghiên cứu nên Tác giả bài viết chưa đi vào phân tích nội dung, cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền này, chưa thấy vai trò, trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát. Tiến sỹ luật học Tường Duy Kiên với bài: “Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự” (đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 13, tháng 7/2006).

Nội dung đề cập những chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự như quyền được coi là vô tội, áp dụng hình thức đối xử thích hợp với người bị giam, giữ chờ xét xử, giảm thiểu nguy cơ xâm phạm đến quyền con người trong hoạt động xét xử mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để xác định tính tương thích của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự. Về nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự có các công trình nghiên cứu như: Tiến sỹ luật học Nguyễn Thành Long với công trình sách chuyên khảo “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật-Hà Nội phát hành năm 2011 đã đưa ra khái niệm về nguyên tắc suy đoán vô tội, xác định chủ thể được suy đoán vô tội là người bị buộc tội và chủ thể thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội là người tiến hành tố 14 tụng, có so sánh với một số nước trên thế giới và sự thể hiện của nguyên tắc này trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này mà Nghiên cứu sinh phải tham khảo. Riêng ở góc độ thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong mối quan hệ với quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội là chưa đề cập nên không trùng lặp với đề tài luận án của Nghiên cứu sinh. Giáo sư, Tiến sỹ khoa học luật học Đào Trí Úc với bài viết: “Nguyên tắc suy đoán vô tội-nguyên tắc hiến định quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015” (đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 02-tháng 1/2017) đã nêu ra ba yêu cầu của nguyên tắc là: Yêu cầu về trình tự, thủ tục; Về chứng minh tội và lỗi của người bị buộc tội, Về lôgic tư duy đối với người và cơ quan tiến hành tố tụng.

Theo đó, mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để lập luận trong luận án. Luận án Tiến sỹ luật học của Tác giả Nguyễn Đức Hạnh với đề tài: “Nguyên tắc bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2015). Nội dung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc bình đẳng và quyền bình đẳng về địa vị pháp lý giữa người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng, bình đẳng giữa hai chủ thể buộc tội và bị buộc tội, bình đẳng trong việc xác định sự thật vụ án trên cơ sở có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác như: nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng; nghiên cứu cội nguồn của quyền bình đẳng góp phần bảo vệ quyền con người nói chung và trong tư pháp hình sự, bình đẳng thể hiện ở mô hình và chức năng tố tụng, về quyền bào chữa và thực hành quyền công tố, thực hiện chức năng buộc tội, chức năng xét xử trong hoạt động tranh tụng, về quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và trước Tòa án mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo hoàn thiện thêm luận án của mình. Luận án Tiến sĩ luật học của Tác giả Nguyễn văn Hiển với đề tài: “Nguyên tắc tranh tụng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2011).

Nội dung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nghiên cứu sinh ủng hộ quan điểm của Tác giả bài viết cho rằng:“Buộc tội thực chất là giả thiết cho rằng một người nào đó thực hiện hành vi phạm tội và bằng các hoạt động được Bộ luật Tố tụng hình sự 15 quy định cho phép chủ thể buộc tội đi chứng minh giả thiết đó. Đây là cơ sở lý luận của hoạt động buộc tội mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo. Tiến sỹ luật học Nguyễn Văn Tuân với bài viết:“Bản chất, nội dung tranh tụng tại phiên tòa hình sự và vấn đề hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự” (đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 09/2009).

Nội dung phân tích các quan điểm khác nhau về bản chất, nội dung tranh tụng tại phiên tòa hình sự trên cơ sở nghiên cứu hệ thống tranh tụng theo quy định của luật thực định của một số nước tiến bộ. Nghiên cứu sinh ủng hộ quan điểm của Tác giả bài viết cho rằng: “Người buộc tội có trách nhiệm chứng minh tội của bị cáo. Thông qua chức năng buộc tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên tiến hành công tác kiểm sát hoạt động xét xử. Công tác kiểm sát hoạt động xét xử được thể hiện ở nhiều hình thức như kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định không có căn cứ và không hợp pháp của Hội đồng xét xử”.

Đây là tư tưởng làm cơ sở lý luận cho hoạt động buộc tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên do góc độ nghiên cứu nên Tác giả bài viết chưa gắn kết với hoạt động buộc tội của Viện kiểm sát/Kiểm sát viên tại phiên tòa còn nhằm mục đích bảo đảm thực thi quyền con người và quyền tố tụng của bị cáo mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo hoàn thiện thêm luận án của mình. Luật sư Lê Đức Tiết với bài viết:“Kỹ năng và văn hóa tranh luận tại phiên tòa” (đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 12, tháng 6/2005) đã đưa ra quan điểm: “Mọi chứng cứ buộc tội hay gỡ tội đều phải được phản biện theo nguyên tắc: “Không phản biện được sự buộc tội là có tội, không phản biện được sự gỡ tội là không có tội” mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để lập luận cho quan điểm chứng minh buộc tội trong luận án. Tiến sỹ luật học Nguyễn Quang Hiền với bài viết:“Bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội” (đăng trên Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 01/2010).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát" tập trung vào việc phân tích và bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội trong quá trình chứng minh tội phạm, đặc biệt là vai trò của Viện kiểm sát. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các nguyên tắc pháp lý, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng. Đồng thời, nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về các thách thức và giải pháp để bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội, góp phần nâng cao niềm tin vào hệ thống tư pháp.

Để hiểu rõ hơn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học quyền suy đoán vô tội của người bị buộc tội theo hiến pháp việt nam thực trạng và giải pháp, tài liệu này đi sâu vào quyền suy đoán vô tội - một nguyên tắc cốt lõi trong bảo vệ quyền con người. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh bắc ninh cung cấp góc nhìn về quyền của nhóm đối tượng đặc biệt trong tố tụng hình sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học thẩm quyền huỷ bản án hình sự sơ thẩm của hội đồng xét xử phúc thẩm giúp bạn hiểu rõ hơn về cơ chế kiểm soát và bảo vệ quyền lợi trong quá trình xét xử.