Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Theo từ điển Tiếng Việt thì “xét xử là xem xét và xử các vụ án. Xét xử các tội phạm.
Việc xét xử của Tòa án” [42, tr. Theo từ điển Luật học thì “Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [41, tr. Quan điểm khác cho rằng: “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử ở cấp thứ nhất do tòa án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự” [40, tr. Thông qua các khái niệm trên, có thể khái quát đặc điểm của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: - Về vị trí trong quá trình tố tụng: xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn xét xử ở cấp thứ nhất, kết quả của xét xử sơ thẩm (bản án sơ thẩm) có thể bị xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm (khi có kháng cáo, kháng nghị).
- Về chủ thể tiến hành xét xử sơ thẩm: là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, cụ thể là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu; - Phạm vi áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm: là tất cả các quy định tại chương XX và chương XXI của BLTTHS về những quy định chung của xét xử vụ án hình sự và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. - Nội dung xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: là quá trình Tòa án sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, trên cơ sở bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát 7 luan an thấy có căn cứ để đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm để ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Như vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo các quan điểm nêu trên, tác giả cho rằng: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn xét xử ở cấp thứ nhất, trong đó Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật để tiến hành xem xét, giải quyết vụ án đối với người phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Ở Việt Nam, theo Từ điển luật học, khái niệm người dưới 18 tuổi có thể được hiểu “là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân” [41, tr. Do sự phát triển chưa hoàn thiện mà người dưới 18 tuổi chưa tự mình thực hiện quyền cũng như chưa thể tham gia một cách đầy đủ, chủ động vào các quan hệ pháp luật làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ cụ thể từ các quan hệ pháp luật đó. Qua đó, theo quan điểm của tác giả người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được hiểu là: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm và sẽ phải chịu chế tài hình sự do Tòa án áp dụng đối với họ. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Từ sự phân tích các khái niệm có nội dung liên quan phía trên, tác giả 8 luan an cho rằng: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là giai đoạn xét xử ở cấp thứ nhất, trong đó Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật để tiến hành xem xét, giải quyết vụ án đối với người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Do người dưới 18 tuổi phạm tội là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của công dân, chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình, dễ bị chi phối, rủ rê lôi kéo thực hiện hành vi phạm tội nên việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với họ được thực hiện theo một trình tự, thủ tục tố tụng đặc biệt mang tính chất nhân đạo, đồng thời nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử. Đặc điểm của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Bên cạnh những đặc điểm chung của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn có những đặc điểm mang tính chất đặc thù riêng có thể kể đến như: Một là, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải là những người có hiểu biết về tâm lý trẻ em, về khoa học giáo dục nhằm có tác dụng trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm và cũng để giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội. Hai là, bên cạnh việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung thì việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải tuân thủ các quy định riêng áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (thủ tục tố tụng đặc biệt). Việc Tòa án phải tuân thủ những quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLTTHS cũng là việc Tòa án đã đảm bảo các quyền của người dưới 18 tuổi trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt đối với họ.
9 luan an Ba là, đường lối xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm chủ yếu giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi thành công dân có ích cho xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn chỉ được áp dụng trong trường hợp thật sự cần thiết, còn lại các hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi được ưu tiên áp dụng là hình phạt không tước tự do hoặc các biện pháp tư pháp. Bốn là, để đảm bảo quyền giữ bí mật thông tin, tránh những tác động tiêu cực đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, BLTTHS quy định trong trường hợp cần thiết thì Tòa án có thể xét xử kín vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, ngoài ra việc xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội, thuộc trường hợp không được công bố bản án trên cổng thông tin của Tòa án. Quy định về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1.
Quy định của Bộ luật hình sự về người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Nguyên tắc áp dụng Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Nguyên tắc áp dụng Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 90 BLHS, theo đó người dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định riêng chỉ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và những quy định chung không trái với quy định riêng này. Cụ thể người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định tại Chương XII của BLHS. Đây là những quy định được ưu tiên áp dụng để xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Trong trường hợp có những nội dung không được quy định trong chương XII thì những quy định chung của BLHS sẽ được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 10 luan an Thứ nhất, Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm. Thứ hai, Ngoài căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 BLHS thì người dưới 18 tuổi phạm tội còn có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giảo dục nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả trong những trường hợp sau đây: - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134; Điều 141; Điều 171; Điều 248; Điều 249; Điều 250; Điều 251 và Điều 252 thì người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp tư pháp như: Khiển trách; Hòa giải tại cộng đồng; Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, Điều 134, Điều 141, 142; Điều 144; Điều 150; Điều 151; Điều 168; Điều 171; Điều 248; Điều 249; Điều 250; Điều 251 và Điều 252; Thứ ba, Xem xét chỉ trong trường hợp cần thiết mới truy cứu trách nhiệm hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là nguyên tắc đã được quy định từ BLHS năm 1985, khi hành vi phạm tội của họ ở mức độ nghiêm trọng nhất định, nhân thân xấu và xét thấy việc áp dụng các biện pháp giáo dục và tác động khác của xã hội không đủ hiệu lực để phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung thì mới tiến hành truy cứu TNHS.
Thứ tư, Khi xét xử, việc áp dụng hình phạt chỉ trong trường hợp cần thiết.