Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu 1. Khái niệm công tố 1. Khái niệm quyền công tố Quyền công tố là quyền của Nhà nước vì lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà nước hay của xã hội) đối với người phạm tội, đã được biết đến từ thời xa xưa của xã hội loài người, khi nhà nước xuất hiện thì quyền công tố cũng xuất hiện.
Lịch sử tư pháp hình sự trên thế giới đã cho thấy, quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện chế định quyền công tố gắn với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Trong từng thời kỳ nhất định, mỗi quốc gia có bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau gắn liền với các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, con người, văn hóa. Do đó, quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, song song với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố cũng ngày càng thể hiện rõ nét. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố, tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật [47, tr.
Trên thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau và chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm quyền công tố. Theo dòng lịch sử pháp lý Việt Nam, khoa học luật pháp lý nói chung, cũng như khoa học hình sự nói riêng, chế định “quyền công tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, trước Hiến pháp năm 1959 đã tồn tại quyền công tố, từ năm 1960 đến nay do VKSND thực hiện quyền này. Quyền công tố ở nước ta được đề cập trong Hiến pháp năm 1980, chức năng THQCT của VKS được quy định tại Điều 138 Hiến pháp 1992, Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 107 Hiến pháp 2013 đã khẳng định tại sự tồn tại của thuật ngữ quyền công tố, THQCT trong chức năng của VKSND. 10 Luan van Để hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội dung nó gì là, hiện nay vẫn chưa có quan điểm, nhận thức thống nhất chung.
Theo từ điển Luật học thể hiện “công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [56, tr.188]; trong khi từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do GS. Hoàng Phê chủ biên thì: công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” (57, tr.204]; lại có quan điểm cho rằng “công tố là hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”. Hiện nay Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào giải thích chính thức nội dung quyền công tố, có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi, chủ thể tham gia thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Tác giả đồng tình với một số quan điểm có sự khác nhau nhưng cơ bản tập trung vào các nhóm sau: Thứ nhất, quyền công tố không phải là chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ có trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, tức là kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự thì KSV THQCT để buộc tội bị cáo tại phiên tòa [79, tr.
Quan điểm này là phổ biến và cũng là quan điểm cơ bản của các nhà khoa học pháp lý Xô Viết, đã đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử hình sự tại phiên tòa, phạm vi quyền công tố bị thu hẹp, chưa thấy hết vai trò, vị trí của VKS khi thực hành quyền công tố, chức năng truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự chỉ là một trong các quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố. Thứ hai, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKSND truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử [30], thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. Nội dung của quyền công tố là đưa ra quan điểm, lời buộc tội những cá nhân cụ thể với các tội danh cụ thể trong bản cáo trạng đó tại phiên tòa sơ thẩm. Theo quan điểm này thấy rằng việc THQCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho hoạt động của VKS.
Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của quyền 11 Luan van công tố, về lý luận cũng như trong thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Tòa án chỉ là một trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của VKS. Thứ ba, “Quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKSND nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung sử dụng để truy cứu TNHS và áp dụng các chế tài hình sự để trừng trị các pháp nhân, người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự” [45, tr. Quan điểm này chưa chính xác bởi đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự, khi người tội phạm xâm phạm đến lợi ích chung của xã hội hoặc lợi ích riêng của một cá nhân, người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử lý bằng các chế tài hình sự. Quan điểm này đã dẫn đến sự nhằm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự: buộc tội, bào chữa và xét xử.
Thứ tư, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc trái với các quy định của pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự của pháp luật [58, tr. Theo quan điểm này, quyền công tố ban đầu được thể hiện trong lĩnh vực hình sự. Cùng với sự phát triển của xã hội và các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm kiểm sát đối với các các cơ quan tiến hành tố tụng.
Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất [58, tr. Đặc trưng của tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc: quyền quyết định và quyền tự định đoạt là của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Trong khi đặc trưng của tố tụng hình sự, phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người tham gia tố tụng. Quan điểm trên đã đồng nhất quyền công tố trong lĩnh vực hình sự 12 Luan van với những nhiệm vụ, quyền hạn khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.
Các quan điểm trên đều có hạn chế nhất định đó là không phân định rõ ràng khái niệm, bản chất, nội dung và phạm vi quyền công tố; xem quyền công tố là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của VKSND quyền lực công; đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, mở rộng quyền công tố trong tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động; quá thu hẹp quyền công tố, xem quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước TAND và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể “Quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực tư pháp hình sự, không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [45, tr 37]. Trong tố tụng hình sự luôn tồn tại ba chức năng cơ bản đó là, chức năng buộc tội (điều tra xác minh hành vi phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, giữ vai trò là quan trọng trong tố tụng hình sự, thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham gia); chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử. Như vậy có thể hiểu, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân dân quyền lực công thực hiện việc truy tố ra trước Tòa án đối với người phạm tội.
Quyền này là quyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở Việt Nam đó là Viện kiểm sát). Cơ quan đó phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người phạm tội và tội phạm. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. 13 Luan van Một vấn đề quan trọng cần làm rõ khi nói về quyền công tố đó là đối tượng, phạm vi và nội dung quyền công tố.
Các nhà nghiên cứu đều có lý luận riêng, đưa ra những luận điểm về đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố để chứng minh cho luận điểm của mình.